Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 31 - Quẻ 60

QUẺ 031:

Tảo tảo khởi trình, miễn tha thất ý.

Ly biệt gian, Tuy bất dị,

     Đồng bạn hành, do bất trệ,

                

離 別 間 雖 不 易

同 伴 行 猶 不 滯

早 早 起 程 免他 失 意

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Dịch nghĩa:  Dù rằng không dễ lúc xa nhau.

Cùng bạn ra đi há trễ đâu

Hãy sớm lên đường giờ chẳng đợi

Cùng người vui vẻ vẹn tình sâu.

Chú giải: Khó xa nhau được khi lòng còn vương vấn. Việc đời phải liệu biện cho đúng lúc, không thể sớm mà không thể muộn. Biết nắm lấy chữ THỜI thì mọi việc đều thuận lợi. Dịp may không đến hai lần. Trễ một phút lút một ngày. Khá biết lấy. Có tin vui.Thánh nhân cũng dạy rằng: Trong ba người đi, sẽ mất một người. Một người đi thì được bạn. Do câu “Tam nhân hành tắc tổn nhứt nhân. Nhứt nhân hành tất đắc kỳ hữu”. Đây là nói con người có Tam thể xác thân, tức nhiên xác thân, (chơn thần) Trí não và (chơn linh) linh hồn. Nhưng dù cả ba đến thế này làm chung một nhiệm vụ mà phần hành khác nhau. Đến khi chết thì xác thân này chết (tức là ba người đi thì mất một

người) Bấy giờ chỉ còn lại chơn thần và chơn linh. Nếu người biết tu thì chơn thần hòa nhập cùng chơn linh mà về Trời (tức là thăng tiến về trên). Nếu người không tu thì chơn thần phải theo xác thân mà chờ ngày thịt xương rục rã (Chơn thần bị đọa) chơn thần mới lơ lửng trên không.

. &

QUẺ 032:

Lạc chi cực, hỉ ưu tương.

Tốn Đoài phân minh cát dữ hung

Vị năng quang đại chung u ám

Nhựt lạc tây sơn phản chiếu trung.

樂 之 極 矣 憂 將

    巽 兌 分 明 吉 與 凶

    未 能 光 大 終幽 暗

   日 落 西 山 返照 中

Dịch nghĩa:  Quá vui đường cuối đợi sầu than

Thuận nghịch dở hay quá rõ ràng

U ám còn nhiều chưa thấy sáng

Trời Tây chiếu lại bóng hoàng hôn.

Chú giải: Thành công không đi vào chữ quá! Vì tới chỗ quá là đến cuối đường. Như quá vui tất sẽ buồn. Lạc cực sanh Bi là vậy.Về Dịch hai quẻ Tốn và Đoài là hai quẻ trái ngược nhau, như bàn tay úp ngửa.Ánh sáng danh vọng dù chưa chiếu tới, nhưng phải thấy rằng ánh hoàng hôn dần lịm tắt, mau lo trau tâm luyện tánh, kẻo trễ bước.

Có câu: “Cực lạc sanh bi”. Hễ sự vui thích đến quá mức thì trở nên buồn thảm, điều ấy vẫn hiển nhiên. Ví như Trụ Vương Ân Thọ, đắm mê nàng Đắc Kỷ, vui say tửu sắc, đến nỗi mất nước, tiêu nhà hại mạng. Sự vui chơi của ông có lắm điều tàn ác, nào là chế bào lạc hại quan trung thần, nào là lập sái bồn, tửu trì, nhục lâm, sát hại cung nga thê nữ, vui cho đến mất cả sự nghiệp Thành Thang, làm cho bá tánh điêu tàn, sanh linh đồ thán. Ấy là sự vui chơi mà mắc tội với Thiên đình”.

&

QUẺ 033:

Quá ngộ ba đào tam ngũ trùng.

Thuỳ tri lãng tĩnh phản vô phong.

Tu giao minh đạt thanh vân lộ.

Dụng, xả hành, tàng bất cổ công.

過 遇 波 濤 三 五 重

誰 知 浪 靜 反 無 風

須 教 明 達 青 雲 路

用 舍 行 藏 不 賈 功

Dịch nghĩa:  Ba đào nhiều lớp đã từng qua

Lại cảnh sóng êm gió lặng hoà

Đến lúc đường mây thêm vẻ sáng

Dụng, xả, hành, tàng hẳn rõ ra.

Chú giải: Nếu tuổi đời cao là đã lăn lóc nhiều với đời, tuổi trẻ thì bước huy hoàng đang chờ đón. Thận trọng từng bước một thì sự thành công dễ đến hơn. Đừng hấp tấp, đừng vội-vã, đừng bôn chôn. Mỗi bước mỗi chắc-chắn thì dễ thành khó bại. Cứ làm đừng ngại. Tài sẵn, trí sẵn. Khi làm thì cứ đem ra sử dụng, khi không cần thì cất vào. Vốn sẵn đừng lo. Nhiều triển vọng. Ấy là do câu này “Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng”.

            Thánh ngôn Thầy dạy: “Các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn thần, Chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo. Bởi vậy một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế Giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con…Người gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương. Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài chiết Chơn linh của Từ Hàng Bồ Tát giáng trần, tu hành tại Phổ Ðà Sơn, đắc đạo thành Bồ Tát lấy hiệu là Quan Thế Âm. Từ Hàng Bồ Tát lại giáng sanh vào thời Phong Thần Trung hoa”.

&

QUẺ 034:

        Khuyết nguyệt hựu trùng viên,

        khô chi sắc cánh tiên,

Nhứt điều di thản lộ, kiều thủ vọng thanh thiên.

缺 月 又 重 圓。枯 枝 色 更 鮮

一 條 夷 坦 路翹 首 望 青 天

Dịch nghĩa:  Vành trăng khi khuyết lại khi tròn

Cành lá tuy khô sắc vẫn còn.

Đường bước trông ra bằng phẳng quá

Trời xanh một sắc ngẩng đầu trông.

Chú giải: vầng trăng tượng trưng sự biến dịch của cuộc đời, khi tròn lúc khuyết. Đời người lúc hiệp rồi có lúc lại phân ly. Cành lá tuy khô nhưng vẫn còn hương sắc, cũng như người dù hòan cảnh nào cũng vẫn giữ nét anh phong sẵn có. Nhưng nên nhớ con đường không bao giờ bằng phẳng, hãy lập chí cho cao mới không thẹn với trời xanh.           “Đời quá ư bạo-tàn, cho nên Đức Chí-Tôn mới giáng trần mở Đạo cho con cái biết: các ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật đều tình nguyện hạ thế cứu đời, xuống bao nhiêu lại càng mất bấy nhiêu. Trong thời-kỳ ấy Bần Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo”

&

Quẻ 035:

Hành  lộ nan, hành lộ nan,

Kim nhựt phương tri hành lộ nan,

Tiền trình quảng đại hà túc lự,

Miễn lực kim triêu độ thử than.

行 路 難 行 路難

今 日 方 知 行路 難

前 程 廣 大 何足 慮

勉 力 今 朝 度此 灘

Dịch nghĩa:  Đường đi khó ! Đường đi khó !

Đến nay mới biết đường đi khó

Thăm thẳm dặm dài đâu đáng ngại

Thác ghềnh qua khỏi gắng công dò !

Chú giải: Một nhà văn đã bày tỏ “Đường đi khó ! Đường đi khó! Không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông”. Thật vậy, từ xưa đến giờ con người đã vượt qua nỗi khó là nhờ có ý chí, nên bất cứ việc gì cũng đạt được kết quả như ý muốn. Hãy nhìn vào giới Nữ ngày nay hầu như không một ngành nghề nào mà không có mặt, mà còn đảm nhiệm nhiều trọng trách:

 Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng liêng Hằng Sống: “Có các Đấng cao siêu đến Nguơn Tứ Chuyển này đặng tạo hình các chơn-hồn, họ xuống tại thế đặng chuyển thế, dầu Nam Nữ ở các Cung cũng đến tại thế gian này, làm đàn bà đặng thay các sắc dân ấy để chuyển thế, chơn thật nơi cõi Hư-Linh kia không phân biệt Nam Nữ, Đức Chí-Tôn nói: Nam không được lấn quyền hành hơn Nữ, Nam Nữ đều con của Đức Chí Tôn hết, nói như thế ta biết không có gì lạ.”

&

QUẺ 036:

Xuân cảnh minh, xuân sắc tân,

Xuân ý bàng thuỷ sinh,

Xuân thiên vô hạn hảo,

Hảo khứ yến quỳnh lâm.

       春 景 明 春 色新 。春 意 傍 水 生

  春 天 無 限 好。好 去 宴 瓊 林

Dịch nghĩa:   Cảnh sắc trời xuân sáng tỏ ra,

Ý xuân cùng nước đượm bao la

Ngày xuân vô hạn bày muôn sắc

Đãi bạn rừng quỳnh tiệc lạc ca.

Chú giải: Thử hỏi trong đời người có gì làm cho cõi lòng vui bền bĩ nhứt ? Nếu nói về vật chất thì dù cho một tiệc tùng hay cảnh hoan lạc nào độc đáo nhất thì cũng chỉ trong vòng vài ngày thôi. Chỉ có cái vui tinh thần, hay đúng hơn là sự tu trì mới được cái vui bền bĩ, thú vị nhất, dù trong hoàn cảnh trái ngang mà biết hưởng thụ cũng thấy hân hoan trong lòng. Ngài Bảo-Thế Lê-Thiện-Phước đọc diễn văn tại Tokyo, rằng: “Người ta có quan-niệm nhà tu trì chỉ biết có kinh kệ nguyện-cầu, mà Quên rằng vì thương hại chúng-sanh nhà tu  mới sớm kệ chiều kinh cầu-nguyện cho chúng-sanh bớt khổ. Quên rằng chớ chi các nhà thông-thái phát-minh nguyên-tử-lực chịu hợp-tác với nhà tu-trì để sử-dụng thì lực nguyên-tử sẽ dùng vào việc giúp ích cho thế-gian hơn là giết hại đồng-chủng. Quên rằng nếu lấy đạo-đức khuyến thiện là bổn phận thiêng-liêng của nhà tu đặng bảo-thủ Hoà-bình, còn lấy bạo-hành ép buộc dân-chúng thì không bao giờ hết loạn. Thoảng như đời biết nương Đạo, thì Đạo sẽ nâng tay dìu đời. Ngặt vì đời quá rẻ-rúng Đạo, bảo sao người tu hành không lánh mình ngoài chốn oai-quyền thế-lực để mặc ai sa vào cạm bẫy của tà-thần, tự rước lấy sự thất-bại chua cay vô phương cứu chữa”.

&

QUẺ 037:

   Vạn mã qui nguyên, thiên viên triêu điêu,

Hổ phục long giáng, đạo cao đức trọng.

  萬 馬 歸 元  。千 猿 朝 凋

  虎 復 龍 降  。道 高 德 重

Dịch nghĩa:  Muôn ngàn vó ngựa, vượn kêu sương

Hổ phục rồng chầu, vẻ thuận lương

Thành kỉnh ngưỡng tôn ân đức trọng

Đạo cao khắc phục thú cầm hồn.

Chú giải: Một tướng giỏi ra trận tiền giữa muôn ngàn quân hò reo chiến thắng thì cái thành công ấy phải trả giá trên muôn ngàn xác chết của binh sĩ mà thôi. Có câu “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô”. Tuy bản lĩnh thật, tài bách chiến bách thắng thật, nhưng chỉ một thời. Hãy biết xây dựng thành công trên tinh thần đạo đức mới được.

Thầy dạy: “Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương”.

&

QUẺ 038:

Hoàng ly báo thượng lâm,

Xuân sắc tiên minh,

Đề tiên khoái trước,

Mã thượng tốc hành trình.

黃 鸝 報 上 林 。春色 鮮 明

    提 鞭 快 著 。馬上 速 行 程

Dịch nghĩa:   Hoàng anh khẽ hót bên rừng

Cảnh xuân tươi sáng tưng bừng cỏ thơm

Vút roi giục ngựa bước dồn,

Vó câu thắm thoát thẳng bon đường dài.

Chú giải: Sự vinh quang được chào đón, hòa quyện với không khí tưng bừng. Lòng người hớn hở mở rộng niềm vui. Sự việc được hài hòa, công thành danh toại. Phải nhớ:

Các Đấng nói: “Cái khôn ngoan của mình là quỉ, nếu nó dìu đường mình đi theo nó thì mong gì đoạt được ngôi vị cao trọng đối phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật mà Chí-Tôn đã hứa: “Nếu các con có thể hơn Thầy, thì Thầy cũng hạ mình cho các con đoạt được ngôi vị”, ấy là hàng phẩm của Đức Chí Tôn đối cả Chơn-Thần. Hại thay, họ không muốn nghe và không muốn biết, bởi không dám biết mình sợ e cho họ không biết, nên Quỉ tánh họ dục theo con đường thú, thành thử ra cái tấn tuồng tương-tàn, tương sát nhau tại thế-gian này.”

&

QUẺ 039:   Đại tứ phóng linh đan,

 Cứu nhân hành vạn lý,

 Đáo đầu đăng bỉ ngạn,

 Độ quá nhập tiên bang.

大 肆 放 靈 丹。救 人 行 萬 里

到 頭 登 彼 岸。渡 過 入 仙 班

Dịch nghĩa : Thuốc tiên ban rải khắp nơi

Muôn ngàn người hưởng ân Trời dành cho

Quay đầu muốn vượt bên bờ

Đưa người vào chốn mộng mơ Tiên thần.

Chú giải: Làm việc phải cũng như gieo giống quí sẽ gặt hái quả ngon. Tuy vậy không phải chỉ hưởng riêng một mình mà phải biết ban rải cho nhơn sanh hưởng nhờ. Cũng như nền Đại-Đạo ngày nay sở dĩ gọi là Tam Kỳ Phổ Độ là vì tôn chỉ là dẫn đến Đại Đồng. Nay, Việt Nam hân-hạnh được đón nhận nền Đại-Đạo trước tiên để rồi thông truyền cho cả thế giới một nền Tân Tôn giáo với chủ-nghĩa Đại Đồng để hưởng Cơ Đại-Ân-Xá lần ba của Đức Thượng Đế  

 Đại-Ân-xá là gì?  Tức là một cuộc Ân-xá lớn (tiếng Pháp gọi là Troisième Amnistie de Dieu en Orient). “Mỗi nguơn hội Đức Chí-Tôn với lòng Từ-bi tha thiết thương con cái của Người không nỡ để chìm đắm nơi sông mê bể khổ, nên mỗi nguơn hội Đức Chí-Tôn có mở một kỳ Phổ-Độ để cứu vớt nhơn-sanh và rước các Nguyên nhân tức là nguyên linh đã xuống trần nay đem trở về ngôi vị cũ. Như thế thì mỗi Kỳ Phổ-Độ đều có mở một cuộc Ân-xá, mở cửa dễ dàng cho các Đẳng chơn hồn có đủ phương lập vị. Nền Đạo này là Cơ Đại-Ân-Xá tận độ chúng sanh nên Cao-Đài xưng là Đại-Đạo. Vì chủ-nghĩa tối cao của Đại-Đạo chẳng những là QUI TAM-GIÁO HIỆP NGŨ CHI mà thôi, mà phải làm thế nào dầu bậc Đế vương ngoài thế cũng phải bái phục, phải tùng Đạo, phải dò theo các cơ thể của Đạo, phải nhờ Đạo mới mong trị an thiên hạ đặng.

Vậy mới gọi là HIỆP NHỨT.!

Vậy mới gọi là ĐẠI-ĐẠO !

&

QUẺ 040:

Nhất đái thuỷ, bích trừng trừng,

Châu vãng giang thượng,

Nguyệt đáo thiên tâm,

Ổn bộ kỳ trung, Huyền diệu bất văn,

Phi nhân ngộ kỷ, Kỷ táng sinh thân.

一 帶 水 碧 澄澄

舟 往 江 上 月到 天 心

穩 步 其 中 玄妙 不 聞

非 人 誤 己 幾喪 生 身

Dịch nghĩa:  Nước xanh một dãy trong veo

Thuyền neo trên bến,  trăng treo lưng trời

Bước chân đã chắc vững rồi,

Huyền hư đâu thấy hẳn người hại ta

Cơ hồ nguy hiểm chắc là.

Chú giải: Buổi đầu thấy như thành công rực rỡ, nhưng chớ vội mừng. Vì chữ Tài đi với chữ Tai một vần. Thành công hay thất bại cũng đã có số Trời. Hãy nhìn chữ SỐNG phải chăng khởi bằng chữ SỐ hay sao ? Tức nhiên khi con người vừa sinh ra là có số định, nếu không như vậy thì liệu con người có làm gì khác hơn không. Tuy nhiên, phía sau chữ SỐ còn có chữ NG (đọc là ngờ) nghĩa là nếu biết lấy đạo đức giồi tâm thì có thể cải số. Bằng ngược lại thì niềm vui chóng tàn. Cuộc đời này sự thạnh suy bĩ thái như giọt sương trên ngọn cỏ, chỉ lâu hay mau là do ánh nắng đến sớm hoặc muộn mà thôi: sương tan biến tức thời.  

&

QUẺ 041:

Đào lý thư nghiên, xuân quang tiên lệ,

Lương thần mỹ cảnh, quân tu ký,

Tuy tâm sở vãng, sự sự tương nghi,

Vô dụng đa nghi, can độc thần chỉ.

桃 李 舒 妍 。春光鮮 麗

良 辰 美 景 君須 記

隋 心 所 往。事事 相 宜

無 用 多 疑 。干瀆 神 祉

Dịch nghĩa:  Vẻ xuân tươi sáng lý đào xinh

Ngày đẹp cảnh vui khá vững tin

Việc hẳn muốn đi thời cũng hợp .

Nghi ngờ chi nữa phạm thần linh.

Chú giải: Sự tốt ắt lâu bền. Phải biết cách duy trì. Phải chăng cũng do ân đức tiền nhân lưu lại. Nhưng nên nhớ “Ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây” và phải biết vun quén cho cây thêm xanh tốt. Người muốn hưởng phước lâu dài phải biết trồng “cây đức”.Do vậy mà người muốn làm Môn đệ của Thượng Đế “Khi mới Nhập môn vào Đạo Cao-Đài lập Minh thệ thì đặng hưởng hồng-ân là thọ phép Giải oan. Phép này rửa sạch tội tiền khiên của mình từ trước. Phép này cũng là một Đại Ân xá những tội tình, nhưng từ ngày Nhập môn về sau thì phải gìn giữ đừng gây thêm tội mới cho đến ngày chết tức là ngày trở về với Đức Chí-Tôn (Đại-Từ-Phụ) thì được nhẹ nhàng rất nhiều. Ngoài Bí Pháp giải-oan này Đức Chí-Tôn còn ban cho Pháp Tắm Thánh, pháp làm Hôn phối và đặc biệt nhứt là phép xác và phép độ thăng. Người Tín-hữu Cao-Đài nào giữ được 10 ngày chay trong mỗi tháng đổ lên được thọ truyền bửu pháp tức là hưởng được phép xác, cắt hết 7 dây oan-nghiệt. Linh hồn không còn bị ràng buộc với thi hài bởi 7 dây oan nghiệt nữa nên được xuất ra nhẹ-nhàng về cõi Thiêng liêng hằng sống. Còn phép Độ thăng là để giúp cho linh hồn  Chức-sắc được nhập vào Bát-Quái-Đài dễ-dàng hơn”.

&

QUẺ 042:

Ẩn trung hiển, hiển trung vi,

Cá trung hữu huyền cơ, tham đắc thấu liễu,

Trực thượng Tiên thê.

隱 中 顯 顯 中 微

個 中 有 玄 機 參得 透 了

 直 上 仙 梯

Dịch nghĩa :  Ẩn hiện, hiển minh quá tế vi

Huyền cơ ắt hẳn há còn nghi?

Dự vào tất sẽ lòng ta thấu.

Lên thẳng thang Tiên có khó gì !

Chú giải: Ẩn là dấu kín, hiện là bày ra trước mắt mọi người. Cũng như người có thể xác và linh hồn. Kẻ nào chối sự có mặt của linh hồn thì một là chưa rõ thông lý Đạo, hai là làm ra vẻ tinh thông khoa học thực nghiệm. Cả hai đều đáng tội nghiệp. Đức Hộ-Pháp nói “Phải hiểu THỂ-PHÁP, biết Thể pháp rồi mới thấu đến BÍ-PHÁP. Khó lắm! Phải để tinh-thần tìm hiểu cho lắm! Khó lắm ! Phải rán học cho lắm mới có thể đoạt  đặng! Điều rất khó khăn là phải viết sách. Vì “Có Thể pháp thì có Bí-pháp! Các vị Giáo-chủ cũng phải tùng theo khuôn luật đó, một nền Tôn giáo có THỂ PHÁP là cơ-quan GIẢI KHỔ cho chúng sanh, tức nhiên phải có BÍ-PHÁP đặng làm cơ quan GIẢI THOÁT cho chúng sanh. Hễ độ phần xác tức nhiên phải độ phần hồn cho toàn vẹn. Một nền TÔN GIÁO đã xuất hiện tại thế gian này dầu Thể-Pháp cao siêu bao nhiêu đi nữa, nếu không có Bí Pháp làm tướng diện căn bản thì nền Tôn Giáo ấy chỉ là Bàng môn Tả đạo mà thôi”.

&

QUẺ 043:

Vô thượng khứ, tại tiền đầu,

Hồi đầu nhứt ngộ,

Thằng cương hảo thu,

Thiên điều vạn tuyến lộ thường tại,

Tự hảo sưu cầu.

無 上 去 在 前 頭 。回 頭 一 悟

繩 韁 好收。千條萬線 路 常 在。自好搜 求

Dịch nghĩa:  Con dường trước mặt khá nhanh chân

Ngảnh lại nghĩ suy nhụt chí dần

Tuấn mã dây cương thu gấp lại

Tự mình chọn lối giữa ngàn phương.

Chú giải: Phải liệu gấp, thời gian không đợi. Hãy thu xếp, không còn chần chờ được nữa. Sáng suốt mà liệu biện. Việc này có khác nào các vị Tướng soái của Thầy cắm cờ Bến hải. Đức Hộ-Pháp nói: “Nhiệm vụ trọng yếu của Thầy trò ta phải ra gánh vác. Đó là CƠ CỨU KHỔ thực hiện”. Phong trào Hòa Bình Chung Sống do các ông THOẠI, KỲ, ĐẠI, LỢI tổ chức Ban Túc trực Bến Hải cắm cờ Nhan Uyên tại đó kêu gọi hai miền Nam- Bắc sớm thống nhất, bị chánh quyền Ngô Đình Diệm giải tán. Cũng nên biết vào ngày 23-10-1961 Sĩ Tải Phạm Duy Nhung thừa Ủy-quyền của Đức Hộ Pháp họp báo tại nhà hàng Soái Kình Lâm (Sài gòn) công bố các bức thư gởi qua Mỹ, Anh, Pháp (trong Hội nghị Genève) có đoạn viết: “Chúng tôi tin tưởng sự chân thành của qúi quốc với đại danh là liệt cường luôn luôn có ý chí giúp đỡ dân tộc chúng tôi mà không vụ lợi” ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và tra tấn đến chết.

&

QUẺ 044

Tứ cố vô môn lộ,

Đào nguyên lộ khả thông,

Tu luyện thành chánh quả,

Vạn tuế thọ như tùng.

   四 顧 無 門 路。桃 源 路 可 通

          修 煉 成 正 果 。萬 歲 壽 如 松

Dịch nghĩa:  Bốn phương không lối biết tìm đâu?

Chốn ấy Đào nguyên ngõ dễ vào.

Tu luyện tất thành viên quả mãn,

Nghìn năm hưởng đặng tuổi tùng cao

Chú giải: Trong vũ trụ trời đất rộng thinh. Thế mà có người vẫn than rằng không lối thoát, đó là khi tâm hồn quá quẫn bách. Người bị nhốt trong tứ khổ, cũng như cái xác thân này nhốt cả linh hồn không lối thoát vậy. Chỉ có một cách duy nhất là phải năng tu hành. Khi tu thì phải quên đi những gì ràng buộc, chịu khó chịu nhọc sửa tánh trau lòng, phụng sự vạn linh. Sự khó nhọc này như nước bốc hơi. Nước bốc hơi phải chịu cao độ mới thành mây trời bảng lảng, bay ngút chín từng cao, mặc tình bay lượn trên trời. Ấy là lúc nước mây trở lại với “Quê hương tinh thần” trên chín từng  không là vậy.

&

QUẺ 045:

Bất dụng mang, bất dụng hoang,

Tự hữu trú túc hương,

Minh cổ hưởng chung địa,

Tam bảo kiến môn tường.

不 用 忙。不 用慌

自 有 駐 足 鄉

鳴 鼓 響 鍾 地。三 寶 見 門 牆

Dịch nghĩa:   Đừng quá hoang mang trước sự tình

Hữu duyên vững thế rõ như in

Khua chuông gióng trống thần linh chứng

Cửa Phật không xa, tất hiện hình.

Chú giải: Phải có đức tin mạnh mẽ, khi đã làm thì không còn hoang mang vì biết chắc đây là việc phải làm, nên làm. Khi đã quyết đoán rồi sẽ có thần linh ám trợ. Còn nếu việc tà thì cũng có tà thần giúp sức. Nên nhớ cuộc đời luôn có hai mặt. Nó cũng nằm trong qui luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” mà thôi. Thi văn dạy Đạo rằng:

Ðài vân Quan Võ để phong Thần,
Còn của Thầy đây để nhắc cân.
Muôn đức ngàn lành không sót một,
Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần
.

&

QUẺ 046:

Bôn ba nhứt thế, tổng thị hư phù,

Vô thường nhứt đáo,

Vạn sự hưu, cấp tảo hồi đầu.

奔 波 一 世。 總是 虛 浮

   無 常 一 到 。萬 事 休 急 早 回 頭

Dịch nghĩa:   Bôn ba lắm nỗi lại thành không

Số đã định rồi luống uổng công.

Mọi sự khá dừng tua giác ngộ

Hãy mau  ngoảnh lại chốn thiền không.

Chú giải: Trong cuộc sống phần đông cứ bôn ba để lo vun bồi vật chất, nhưng vật chất không bao giờ đủ, tức nhiện đòi hỏi sự lợi lộc cho bản thân, cho gia đình, cho con cháu, người đời nói rằng đó là “Túi tham không đáy”. Chuyện ngụ ngôn về “Ăn khế trả vàng” không ai còn lạ. Nhưng phải biết người đến thế trước nhứt là trả quả. Đức Lý Giáo-Tông có nhắc lời của Chí-Tôn dạy cách trả quả:

      Trái oan chưa dứt  thuở nào thôi ?

      Muốn đặng phi thăng, ráng  trả rồi.

      Cượng lý  tu hành  cho thoát tục,

      Tiền  vay  nợ  hỏi, sổ ai  bôi ?

“Các con ôi ! Phải ráng vui lòng mà chịu điều cực khổ. Hễ Thầy thương các con chừng nào thì hành hạ các con chừng nấy. Bởi vậy, khi các con hiến thân hành đạo với Thầy, đã lịnh truyền cho Thần, Thánh bắt  các con  phải trả cho đủ kiếp, đặng trừ cho kịp kỳ nầy. Bởi các con phải chịu Luật luân hồi, vì cớ mà các con phải chịu điều khổ sở như vậy, các con chớ than phiền, chính theo lời thề của các con thì Thầy hành các con cho đúng lẽ. Vậy mới xứng đáng là Môn đệ của Thầy. Có nhiều đứa vì không rõ Luật Thiên điều, cứ  than van mãi.” Vậy, chư Hiền hữu, Hiền muội nghe Ơn Trên dạy đành rành. Nợ thì phải trả, chớ không chạy đâu được. Dầu  một vị  Đại La mà phạm luật Thiên điều thì cũng phải tái kiếp mà đền bù cuộc trả vay.”

&

QUẺ 047:

Chân chân chân, nhân bất thức,

Chân chân chân, thần hữu linh,

Qui tông phản bổn,

Phương uý nguyên tinh.

真 真 真 人 不識

真 真 真 神 有靈

歸 宗 返 本 方畏 元 精

Dịch nghĩa:  Quá thực mà người chửa biết sao !

Toàn chân linh ứng có thần cao

Quay về nguồn gốc tìm chân lý

Chỉ sợ tinh thần vẫn xuyến xao.

Chú giải: Tâm chân chánh thì làm cốt cho Thần, Thánh, Tiên, Phật ngự, phải biết trọng kỉnh. Người đời khi được dịp may thì nghĩ rằng chính mình hay khéo giỏi, quên rằng luôn có sự ám trợ bên trong đó. Phải lập cho mình một đức tin vững chắc. Thầy dạy ngày  29-1-Bính Dần (1926): 

“Thầy cho các con biết trước đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả môn đệ. Các con đủ hiểu rằng, phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối. Nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt. Cười...”

&

 

QUẺ 048:

Tẩu tận thiên nhai,

phong sương lịch biến,

bất như vấn nhân, tam thiên tiệm tiệm,

hữu hồi thủ kiến.

走 盡 天 涯 。風 霜 歷 遍

不 如 問 人。三天 漸 漸 。有 回 首 見

Dịch nghĩa:  Sẩy chân đến tận chơn trời

Gió sương dù trải hỏi người vẫn hơn

Ba ngày lần lửa qua luôn

Ngoảnh đầu tất thấy tỏ tường tướng chân.

Chú giải: Sự thể tưởng đâu dễ dàng, sống trong xã hội phải chịu vày bừa cùng thế sự. Nó như dòng nước lũ cuốn trôi tất cả rồi đưa ra biển. Bởi người đến thế này một là trả quả, hai là học hỏi; ba là làm thiên mạng. Nhưng phải biết:

Thế nào gọi là Trả quả ? -Là nhận chịu các nợ tiền khiên đã kết nạp trong nhiều kiếp chỉ quyết trả cho xong mà không vay thêm nữa.

            Có hai cách Trả quả: - Một là quả báo về tinh thần ở phạm vi tư tưởng, buồn  thảm âu sầu. - Hai là quả báo về xác thịt, tật bệnh, đói rét, khốn nàn. Quả lại chia ra làm ba ảnh hưởng:

            1- Là quả báo cá nhân do mình tạo ra.

            2- Là quả báo của chủng tộc do  nòi  giống  tạo  ra.

            3-Là quả báo do quần chúng của mỗi người trong xã hội gây ra. Vậy muốn dứt các dĩ vãng là kết quả của hiện tại âu sầu thống khổ thì phải lấy cái hiện tại mà tạo cái tương lai cho được rực rỡ vẻ vang, rồi lấy cái tương lai đó mà tạo một cơ sở vững vàng muôn kiếp, tức là đi tới chỗ trường sanh bất tử đó vậy.”

QUẺ 049:

Trầm trầm a nhiễm, bất kiến thiên tâm.

Lôi môn nhứt chấn, thể kiện thân khinh.

沉 沉 痾 染 。不 見 天 心 。

雷 門 一 震 。體 健 身 輕。

Dịch nghĩa:   Bệnh tình trầm trọng khổ đau

Lòng Trời khôn rõ thấp cao thấu tình

Cửa lôi chấn động giật mình,

Thể thân khang kiện, sự tình khỏi lo.

Chú giải: trước có điều lo nghĩ, sau mọi việc đều thuận hợp, ấy là nhờ một tinh thần đạo đức sẵn, đức tin lớn. Như trường hợp của Ngài Tiếp Pháp Chơn Quân Trương văn Tràng: Qua cuối mùa thu năm Giáp-Thìn (1964) Ngài Tiếp pháp Trương văn Tràng ngoạ bịnh điều trị tại nhà thương Phạm Hữu Chương (Chợ-lớn) kế qua nhà thương Grall (Đồn đất) Sài gòn. Bịnh tình ngày càng gia tăng mãnh liệt, gần như tuyệt vọng. Ngài xin với Hội-Thánh cầu một đàn cơ để cầu xin thiêng liêng cho thuốc chữa trị. Hội-Thánh chấp thuận, liền thiết đàn Cơ tại Giáo-Tông-Đường. Ngài Khai-pháp giáng Cơ dạy Hội-Thánh xuống nhà thương Crall rước Ông về Tòa Thánh cầu nguyện và dùng thuốc Nam. Lời dạy ấy nhằm ngày 4-01-1964. Sau 7 ngày,  làm đúng như lời dạy, bịnh tình Ngài Tiếp-Pháp khỏi hẳn. Ngài Khai-Pháp Trần-Duy-Nghĩa và Tiếp-pháp Trương văn Tràng là một cặp Cơ Phổ-Độ từ buổi khai Đạo. Ngài Khai-pháp dầu đã Qui Thiên, nhưng lúc nào cũng quan tâm đến bạn đồng môn còn tại thế. Sau khi bình phục Ngài Tiếp Pháp có làm mấy bài thi  để tỏ lòng biết ơn Hội-Thánh và tất cả đã lo cho Ngài:

1-  Đường đời khúc-khuỷu biết đâu lường,

Trên có Huỳnh-Nương hết dạ thương.

Khai-Pháp Chơn Quân truyền diệu lý,

Quần Tiên rưới phước hộ Thiên-lương.

***

2-  Trời chiều bảng-lảng bóng thiều-quang,

Tiếng trống thu không giục khách nhàn,

Đoái lại chúng sanh thiên vạn ức,

Vẫn còn bận bịu với thời gian.

                              Tiếp Pháp Trương-Văn-Tràng

&

QUẺ 050: 

         Tài mã lưỡng vật mang,

Quan lộc hữu định phương,

Ngưu khuyển trư dương,

Tự khứ chủ trương.

      財 馬 兩 勿 忙。官祿 有 定 方

          牛 犬 豬 羊 自 去 主 張

Dịch nghĩa:   Của cải ngựa xe há bận tâm

Tiền tài quan chức đã an phần

Thú nhà vốn sẵn tâm an nghỉ.

Lo liệu tuỳ nghi thích ứng dần .

Chú giải: Dầu cho cá nhân bạn được an hưởng cỡ nào, nhưng phải thấy đây là cảnh trần là cảnh khổ nhiều vui ít:

“Trần tục là cõi sầu than khổ lụy dành cho các Đấng vô hình vì bị tội lỗi, lạc lầm mà phải sa đọa đặng tìm phương giải thoát trầm luân qui hồi cựu phẩm. Trần tục cũng là trường thi công đức, dành cho khách phàm trả nợ tiền khiên, dứt đường oan trái đặng lập vị thiêng liêng khỏi luân hồi chuyển kiếp. Khái niệm như trên thì bao nhiêu khổn trần là bấy nhiêu bài học, mặc dầu mặn đắng chua cay, nhưng cứu cánh là cảnh tỉnh người trí, rút lấy kinh nghiệm, quay về đời sống thuận theo Thiên lý, bỏ đời sống dựa theo nhục dục. Thiên lý là Đạo, nhục dục là tội tình. Đạo thì mãi còn, tội tình thì sớm mất. Vả lại, Đạo không xa người, duy người xa Đạo, nên sách rằng: "Đạo giả dã bất khả tu du ly dã. Khả ly phi Đạo dã". Bởi đó:

- Người không Đạo thì xử sự không hợp lý, hợp tình.

- Nhà không Đạo thì luân thường đảo ngược.

- Nước không Đạo thì chơn trị không còn.

&

QUẺ 051:

Không không không không.

Hoàn đắc thành công.

Bàn đào thiên tải thục.

Bất phạ ngũ canh phong.

     空 空 空 空 。寰 得 成 功 。

蟠 桃 千 載 熟 。不 怕 五 更 風

Dịch nghĩa:  Không không rồi lại cũng hoàn không

Muôn việc tất thành há đợi mong

Đào tiên đã chín muôn năm đó.

Đâu sợ năm canh gió ngược giòng.

Chú giải: Cuộc đời này nếu nhận chân rõ-rệt thì nó đúc kết bởi 4 chữ “không” tức là không thực, không tồn tại, không vĩnh cữu, không là cứu cánh mà chỉ là phương tiện.

Vậy thì ngày nào con người còn mạnh tranh trên thị trường cơm áo đất đai; ngày nào thiên hạ còn nhị phân lý tưởng, chưa hòa đồng trên một độc nhứt kế hoạch tồn sinh, thì khó trông mong tái lai ngày quang đãng. Ánh Thái Dương rọi sáng khắp nơi, nẻo Đạo-đức dễ tìm khắp chốn, nhưng nhơn tâm còn lắm say sưa trong phồn hoa ảo mộng, thì phương tối hậu để vén màn hắc ám là nhờ năng

lực tinh thần của Tôn giáo. Từ thử nhiều Tôn giáo đã đem hết thiện chí trợ khổn cho đời, nay ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ cũng cùng theo một chí hướng.

            Đức Phật Quan Âm kết thúc  bài thơ vận “Không”

Khán đắc phù sinh nhứt thế không,

Điền viên sản nghiệp diệc giai không.

Thê nhi, phụ tử chung ly biệt.

Phú quí công danh tổng thị không.

Cổ ngữ vạn bang đô thị giả,

Kim ngôn bách kế nhứt trường không,

Tiền tài thu thập đa tân khổ,

Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ không.

Soạn giả Tạm dịch:

Xem trong cuộc thế rốt rồi không !

Ruộng vườn nhà của cũng hư không .

Vợ chồng, cha mẹ đâu thường tại,

Danh vọng, Giàu sang cũng hóa không

Lời xưa chứng chắc trăm ngàn dối.

Nay quyết mưu sâu cũng chữ không

Thâu thập tiền tài nhiều khổ lụy,

Đường về nhắm mắt nắm tay không !

&

QUẺ 052:

Sầu kiểm phóng, tiếu nhan khai,

Thu nguyệt thụ cao đài,

Nhân tòng thiên lý lai.

愁 臉 放 笑 顏開

秋 月 樹 高 臺  。人 從 千 里 來

Dịch nghĩa:   Nét sầu trên mặt dần phai

Nụ cười tươi tắn như ngày trăng lên

Đài cao chiếu sáng mông mênh

Dặm ngàn như đã có tin người về.

Chú giải: Trong cuộc đời được toàn vẹn như vậy cũng đủ lấy làm hạnh phúc, nhưng nếu hưởng chừng ấy khác nào như bóng bọt xà phòng ! Mà thế gian là trường tấn hóa, nên phải học. Khi đã qua trường Đời phải học Đạo nữa “Học Đạo là tìm hiểu Chơn lý và một khi thấu triệt rồi thì không còn vui thú nào ở thế gian sánh kịp. Nhờ vậy, người hành đạo mới dám hy sinh những cái gì ràng buộc Thần trí và Tâm hồn, ngõ hầu giải thoát cảnh trầm luân bể khổ, đặng qui hồi nguyên bổn. Từ xưa đến nay, đã có nhiều Tôn giáo xướng xuất nhiều phương hướng dìu dẫn nhơn sanh trong trường xử sự, tiếp vật theo Đạo hóa sanh của Trời. Song le, văn minh vật chất càng ngày càng tiến triển như hiện giờ, khoa học gần như muốn chiếm đoạt cơ mầu nhiệm của Tạo Đoan, thì trái lại, tinh thần Đạo Đức của nhơn sanh ngày càng lu mờ, mặc dầu, các Tôn giáo kia đã tận lực giáo nhơn qui thiện. Đại Đạo Tam Kỳ xuất thế, với một yếu lý qui Tam Giáo hiệp Ngũ Chi, thành thử những tu sĩ của nền Tân Tôn Giáo nầy không còn phân biệt Giáo phái, tức là coi nhau như bạn thân, đồng theo một khuynh hướng “Cứu nhơn độ thế”. Lẽ dĩ nhiên, Đạo Cao Đài phải có một Giáo lý phù hạp với trình độ của nhơn sanh hiện tại đặng chuyển đọa vi thăng, tiêu trừ nghiệp chướng.

&

QUẺ 053:

Tu trước lực, mạc viễn du,

trường can câu, hướng thiềm thừ quật,

chân dục vân trung đắc cự ngao.

須 著 力 莫 遠遊

長 竿 鉤 向 蟾蜍 窟

真 欲 雲 中 得巨 鰲

Dịch nghĩa:  Tận dùng sức lực chớ chơi xa

Cầm chiếc cần dài hướng nguyệt nga

Để mắt dõi tìm gương ngọc thỏ.

Muốn cầu ngao lớn đợi mây qua .

Chú giải: Người đến thế giới hữu hình ai cũng mang một niềm tin lớn, tức nhiên muốn làm Trời lắm, hay ít ra cũng phải được làm vua mới hả dạ. Nhưng tất cả những điều ẩn ước ấy Thượng Đế đã dành cho nhiều giải đáp rồi. Trước hết phải làm vua chính mình đã, vì thắng một vạn quân không bằng tự thắng lấy mình. Hãy tự thắng mình, làm chủ được mình tức làm chủ cả vũ trụ. Nếu chưa tự thắng mình dù ngồi trên cao chín bệ thì cũng dễ rơi xuống chỗ tận cùng mà thôi. Kìa Trụ Vương mê sa đắc Kỷ, Ngô Phù Sai chết mê chết mệt vì ả Tây Thi. Nghĩ thật buồn cười, có gì mà đáng sỉ hổ hơn cái vòng say đắm ấy. Rốt rồi lại đổ cho người đẹp quyến rủ, mê hồn ? Hoa đẹp trong vườn ai không cho ngắm, nhưng ai biểu đắm, say đến lụy mình? Người ngoài nhìn vào buông lời: Thật đáng kiếp !

&

QUẺ 054:

Vô tung vô tích, viễn cận nan mịch,

hãn hải hành châu, không lao giả lực.

無 蹤 無 跡。 遠近 難 覓

海 行 舟 。空 勞 賈 力

Dịch nghĩa:   Gần xa dấu vết khó tìm

Thuyền đi biển cạn những thêm cực lòng

Hoài công chưa thoả ước mong.

Chú giải:  Việc trong trời đất muôn hình ngàn vẻ, nhưng vì còn nằm trong thế giới nhị nguyên, nên cứ lẩn quẩn bằng những  điều: buồn, vui, họa, phúc, tức là nhân quả trả vay của nhân loại không bao giờ dứt. Đây:

Đức Hộ-Pháp thuyết Đạo tại Đền Thánh Tòa-Thánh Tây ninh, ngày 15 tháng 6 năm Mậu-Tý (dl: 21-7-1948): “Hôm nay Bần Đạo giảng về Luật Nhân quả vay trả của nhân loại trong thời kỳ Hạ nguơn hầu mãn bước sang thời kỳ Thượng nguơn Thánh Đức. Các con rán ẩn nhẫn để Ông Trời hát từ màn cho các con coi; các con trông cho đời mau tới, tới chừng tới các con khóc mẹ khóc cha luôn. Bần Đạo nói thật cái quyền năng vô đối của Đức Chí-Tôn một nháy mắt không còn một sanh mạng ở quả địa cầu này, không cần một tích tắc đồng hồ, những nhân nào quả ấy trả cho rồi đặng lập đời Thánh Đức mà thôi.”

&

QUẺ 055:

Tế vũ mông mông thấp,

Giang biên lộ bất thông

Đạo đồ âm tín viễn,

Bằng trượng tá đông phong.

     細 雨 濛 濛 濕 。江 邊 路 不 通

     道 途 音 信 遠。 憑 仗 借 東 風

Dịch nghĩa:   Rơi rơi từng hạt mưa sương

Ven bờ sông lạnh nẻo đường khó thông

Tin thư dường đã vắng không

Chỉ còn mong mỏi gió đông thấu tình .

Chú giải: Cái chu kỳ  của trời đất cứ qua một vòng: Xuân

sanh, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông tàn. Đông là mùa cùng  cuối trong một năm. Người xưa ký hiệu bằng chữ có bộ băng là chỉ sự lạnh giá. Thiên hạ giờ này mới thắm thía cái lạnh đó: Thánh ngôn Thầy có báo trước: "Kỳ Hạ Nguơn hầu mãn, nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tan, mười phần chỉ còn lại một mà thôi. Than ôi ! Buồn thôi ! Nghĩ vì Thiên cơ đã định như vậy, thế nào mà cải cho đặng, duy có mở tấm lòng từ thiện, ăn năn sám hối, lo việc tu hành, đồng với nhau, cả quốc dân mà quì lụy khẩn cầu coi Trời có đoái tưởng đến chăng? Bởi thế nên Đức Ngọc Đế và chư Phật, chư Tiên, chư Thánh mới lập Hội Tam Kỳ Phổ Độ đặng cứu vớt chúng sanh đương linh đinh nơi bể khổ. Nếu gặp thuyền Bát Nhã mà không xuống không theo thì chắc thế nào cũng chơi vơi mé biển."

&

QUẺ 056:

Bình địa khởi phong yên,

Thời hạ vị năng yên,

Cao xứ mịch nhân duyên.

平 地 起 風 烟

時 下 未 能 安。高 處 覓 姻 緣

Dịch nghĩa:   Đất bằng sóng gió bổng dâng trào

Cuộc thế chưa yên luống ước ao

Nhân duyên may được thêm vừa ý

Công trình há ngại cậy nơi cao.

Chú giải: Đất bằng sóng dậy là chỉ sự bất thường. Người luôn bị cơn lốc, nên rốt lại buồn nhiều vui ít. Nhưng nghĩ kỹ lại thì Thượng đế cho các chơn linh xuống thế để trả quả, để học hỏi, để làm thiên mạng chứ nào đâu xuống đây để hưởng thụ ? Phải nắm vững trước câu này. Thầy dạy:

Cõi trần là chi? Khách trần là sao? Sao gọi khách? Trần là cõi khổ, để đọa bậc Thánh, Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả, phải mất cả chơn linh là luân hồi, nên kẻ bị đọa trần gọi là khách trần”.

&

QUẺ 057:

Chính trực nghi thủ. Vọng động sinh tai

Lợi thông danh đạt.  Diệp lạc hoa khai.

            正 直 宜 守 。 妄 動 生 災

            利 通 名 達 。 葉 落 花 開

Dịch nghĩa:  Gìn lòng ngay thẳng khá cầu

Việc làm không liệu lo âu có phần

Lợi danh rồi sẽ thoả cầu

Lá vàng rơi rụng, hoa  chào gió êm.

Chú giải: Người có tâm chánh trực, phải cần biết chánh lý là đâu ? Nên tự vấn tâm rằng: Ai sanh Trời ? Từ đâu đến?

Đức AĂÂ giáng Cơ dạy: “Từ buổi Hồng Mông, nhứt Khí Hư-vô phân Lưỡng Nghi, sanh Tứ-Tượng, chia Bát-Quái, rồi mới biến hóa Nhựt, Nguyệt, Tinh-tú và 72 Địa cầu, mà tạo thành Càn Khôn Thế Giái”. Ngài lại giải rằng: Lúc khí Hư-vô sanh Lưỡng Nghi: Dương-khí thăng lên, biến ra Ngài; Âm-khí hạ xuống, biến ra Kim-Mẫu Nương Nương”. Đấng Huyền Khung Cao Thượng Đế đã tá phàm nhiều lần rồi mà dìu Đạo nơi Á-Đông, lại giáng sanh khai Thánh-Giáo miền Thái-Tây nữa. Nay vì đã rốt cuộc tuần huờn thì giờ đã cùng tận trong buổi Hạ-Nguơn nên Đức Ngài đến hoằng khai Đại-Đạo, chuyển các Tôn-Giáo lại thành một mối duy nhứt gọi là “Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt” hầu dìu-dẫn nhân sanh, tức là mở cơ tận độ chúng sanh qui nguyên vị”.

&

 

QUẺ 058:

Quân tử thăng, tiểu nhân trở,

chinh chiến sinh ly khổ.

Tiền hữu cát nhân phùng,

tín tại mã ngưu nhân tại sở. 

Sự yếu doanh cầu an.

  君 子 升 小 人 阻。征 戰 生 離 苦

  前 有 吉 人 逢。信 在 馬 牛 人 在 楚

事 要 營 求 安

Dịch nghĩa:  Tiểu nhân cản bước tiến thăng

Chiến chinh ly loạn tâm hằng khổ thương

Tiền trình may gặp người lương

Có nơi sở cậy chẳng thường lo âu

Kinh doanh an hưởng khá cầu.

Chú giải: nếu nói quân tử ắt có tiểu nhân, có Thánh Thần ắt có ma quỉ. Dù ai chăng nữa cũng đều là con của Thượng

Đế. Sở dĩ phân ra hạng thứ là để nói về người. Trong một lúc mà “cái ta” này vừa là ma, vừa là Phật. Vì sao? –Vì khi tâm ta nghĩ điều lành là Phật, nhưng thoáng chốc tâm ta nghĩ điều quấy ấy là ma. Thế nên muốn trừ tà ma nhiễu hại, tiểu nhân quấy phá, thì mỗi người tự trị cái tâm trước.

Thầy dạy: “Các con đủ hiểu rằng: Phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối; nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt... Cười...Thầy nói cho các con hiểu rằng: Muốn xứng đáng làm môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm môn đệ Thầy thì là Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước; còn ngã thì cửa Ðịa Ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét, ai thấu đáo vậy ôi! Bởi vậy cho nên Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành. Thầy nói trước cho các con biết mà giữ mình, chung quanh các con, dầu xa, dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp; chúng nó chẳng hề thấy đặng, là đạo đức của các con. Ấy vậy rán gìn giữ bộ thiết giáp ấy hoài cho tới ngày các con hội hiệp cùng Thầy.’

&

QUẺ 059:

Phân phân phục phân phân,

Hy hư độc yếm môn,

Ẩm my vọng đăng hoả,

Bạn ngã sinh hoàng hôn.

紛 紛 復 紛 紛  。欷歔 獨 掩 門

 飲 眉 望 燈 火 。伴 我 生 黃 昏

Dịch nghĩa:   Bời bời tấc dạ không yên

Thở than miệng những ưu phiền thở than

Chau mày đối bóng đèn tàn

Hoàng hôn rồi lại hôn hoàng tri âm.

Chú giải: Việc chưa có gì hanh thông, thịnh lợi, tuy nhiên phải biết rằng con người đứng giữa đất trời nên mới có mối liên quan mật thiết. Đức Thượng đế không nỡ để nhơn sanh say đắm hồng trần mà phải chơi vơi, sầu khổ. Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên Cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở”

&

QUẺ 060:

Hồng nhan mỹ, hưu thụ hoài,

            Nhân tại xa trung, châu hành thuỷ lý.

紅 顏 美 休 樹 懷

           人 在 車 中 舟行 水 裏

Dịch nghĩa:   Nét mặt vui tươi ứng việc lành

Nghĩ suy chi lắm việc đành hanh

Lữ hành yên ổn trong xe ngựa

Thuyền lại thênh thang lướt dặm ngàn..

Chú giải: Dù vui, dù buồn nhân sinh cũng vướng mắc trong chữ ĐỜI.Nếu dịch các dấu đi sẽ thành ra: DỜI, ĐỔI, DỐI, vậy thì cái hay nó nằm ở đâu? Sao không trở bước ?  Thầy dạy: Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ Chi Ðại Ðạo là: Nhơn Ðạo,Thần Ðạo, Thánh Ðạo,Tiên Ðạo, Phật Ðạo. Tùy theo phong hóa của nhân loại mà gầy Chánh Giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi. Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều Ðạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau; nên Thầy mới nhứt định qui nguyên phục nhứt. Lại nữa, trước Thầy lại giao Chánh Giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh Giáo mà làm ra Phàm Giáo. Thầy lấy làm đau đớn, hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhân loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh Giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh Thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng Ðảo”.

Tư vấn