Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 61 - Quẻ 90

QUẺ 061;

Kiều dĩ đoạn, lộ bất thông,

đăng châu lý ấp, hựu ngộ cuồng phong .

橋 已 斷 路 不

           登 舟 理 揖 又遇 狂 風

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, hoa, ngoài trời và thiên nhiên

Dịch nghĩa:  Cầu kia đã gãy nhịp rồi

Đường không thông lối dạ thời xuyến xao.

Lên ghe sửa lại mái chèo,

Cuồng phong nổi dậy hiểm nghèo có khi.

Chú giải: Cầu gãy nhịp ắt trở ngại ban đầu. Đường không thông chứng tỏ một sự chậm trễ, chưa có lối thoát. Hãy lo phương tiện kíp quay về, kẻo mưa gió vẫn bẽ bàng. Tuy nhiên sự đời thành công và thất bại luôn là hai mặt trái phải của cuộc đời. Hãy nhớ câu “Thất bại là mẹ đẻ của thành công”. Ngày mà Đức Tôn Dật Tiên, nhà đại Cách mạng Trung Hoa ra quân với 11 lần thất bại. Ông buồn bã nằm dưới giàn lý nhìn nhện giăng tơ mà nghe cõi lòng bối rối. Nhưng nhện cũng khá kiên trì, ông đếm cả thảy 13 lần nhện cứ mỗi lần chăng tơ rồi là bị côn trùng làm vỡ mạn nhện. Thế mà nhện vẫn tiếp tục chăng tơ đến lần 14 mới thành hình. Ngài Tôn Dật Tiên vui trong lòng vì nhện còn kiên nhẫn hơn. Như vậy là Ngài Tôn Dật Tiên hoàn thành cuộc Cách mạng vào lần thứ 12 vậy.

&

QUẺ 062:

Thâm đàm nguyệt. Chiếu kính ảnh,

nhứt trường không. An báo tín.

深 潭 月 照 鏡 影 一 場 空 安 報 信

Dịch nghĩa:  Đầm sâu trăng chiếu lung linh

Ảnh hồng bóng nước như hình gương soi

Sự tình thông suốt hẳn hoi,

An lòng tin tức lần hồi gởi trao.

Chú giải: Tin tức gởi trao được là sự hanh thông, nhưng sự hanh thông ở cõi trần có gì thú vị bằng thông đạt lý trời.

Lời Thầy: “Chư chúng sanh nghe, Từ trước Ta giáng sanh lập Phật Giáo gần sáu ngàn năm thì Phật Ðạo chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe chúng sanh nói Phật giả vô ngôn! Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo Ðạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật Giáo lại cho hoàn toàn. Dường nầy, từ đây chư chúng sanh chẳng tu bị đọa A Tỳ, thì hết lời nói rằng: "Phật tông vô giáo", mà chối tội nữa. Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy mà không tu, thì không còn trông mong siêu rỗi”.

&

QUẺ 063:

Hồ hải ý du du , yên ba hạ điếu câu,

Nhược phùng long dữ thố, danh lợi nhứt tề châu.

湖 海 意 悠 悠 下 釣 鉤

若 逢 龍 與 兔 。名 利 一 齊 週

Dịch nghĩa:   Mênh mông hồ bể ý

Sóng khói đến buông câu

May gặp rồng mây cùng thỏ ngọc

Lợi danh kịp lúc được toàn châu..

Chú giải: Đời người có mấy lần vui ? Nhưng đã biết: “Đời vui tạm sống thừa, Đạo thiên niên bất tận”. Thầy dạy: “Thánh tâm dầu phải chịu khổn trần đi nữa, thì chất nó cũng vẫn còn. Các con khác hơn kẻ phàm là duy tại bấy nhiêu đó mà thôi. Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đọa trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên Cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ra ưng thuận hạ thế cứu đời? Con chỉ có tu mà đắc Ðạo. Phải ngó đến hằng ức, thiên vạn kẻ nhơn sanh chưa đặng khỏi luân hồi, để lòng từ bi độ rỗi kẻo tội nghiệp.”

&

QUẺ 064:

Vật bất lao, nhân đoạn kiều,

trùng chỉnh lý, mạn tâm cao.

    物 不 牢 人 斷橋

                      重 整 理 慢 心 高

Dịch nghĩa: Sự vật không chắc đâu.Người qua lúc gãy cầu

 Mọi việc cần tu chỉnh  Đừng quá vọng lòng cao.

Chú giải: Cầu gãy cho thấy sự chưa toàn, thì lấy gì làm chắc? Lấy gì mà hy vọng ? Tuy nhiên cũng nên biết rằng  có sự thử thách về đức tin trong đó.Nhiều lúc vật chất thương đau thì cùng lúc đường tâm linh khai lối.Hãy nghe:

Thầy dạy: Vốn từ Lục Tổ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh Pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, lập riêng pháp luật buộc mối Ðạo Thiền. Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật Tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi "Tây Phương Cực Lạc" và "Ngọc Hư Cung" mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh. Trong Phật Tông Nguyên Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi; tại tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu. Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo... Ôi! Thương thay! Công có công, mà thưởng chưa hề có thưởng; vì vậy mà Ta rất đau lòng. Ta đến chẳng phải cứu một mình chư tăng mà thôi; vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, Ta đương lo cứu vớt. Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót; phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến "Tả Ðạo Bàng Môn". Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. Ta đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây Ta cũng cho chư tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa.”

&

QUẺ 065:    

Nhập nhi dị, xuất nhi nan,

yêm yêm đáo tái tam. Giao gia ý bất kham.

入 而 易。 出 而 難。

懨 懨 到 再 三 。交 加 意 不 堪。

Dịch nghĩa:  Vào dễ khó ra việc chẳng thường

Lòng sinh buồn chán liệu nhiều phương

Nghĩ suy không thuận tâm nan giải

Việc khá am tường khó đảm đương

Chú giải: Vào thì dễ, ra thì khó. Đó trở thành công lệ. Ví như ăn uống là điển hình nhứt. Nếu ăn vào phải bị ngộ độc thì khó mà đem ra lắm..Người nghiện cũng vậy, ban đầu  định thử chơi cho biết mùi, nhưng khi đã nhiễm rồi thì cay nghiện là cả một vấn đề nan giải. Hơn nữa câu “Gần mực thì đen” quả nhiên nó đen thật, khó mà bôi xóa. Đến như tư tưởng thì dường như ít ai quan tâm, nó là vấn đề then chốt. Vậy cần lưu ý là phải biết giữ cho “Ẩm thực tinh khiết. Tư tưởng tinh khiết. Tín ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí Tôn và Phật Mẫu. Thương yêu vô tận. Ấy là chìa khóa mở cửa Bát Quái Đài tại thế”. Ăn uống tinh khiết là chẳng những ăn uống thức chín, rửa sạch, mà còn cần phải biết ăn thức ăn thực vật, kiêng thức ăn động vật: Vì nó là mầm bệnh trong thời điểm này. Lại nữa nếu là người biết đạo mà giết động vật để ăn mà khen ngon béo miệng, là người bất nhân. Giết vật để cúng tế ông bà, cha mẹ, Thánh Thần là bất Lễ. Mình nuôi vật nâng niu, nó mến mình mà giết thịt thì là bất nghĩa  Hằng ngày nó quen nghe tiếng gọi lại cho ăn, nay bỗng dưng gạt bắt giết là bất trí. Không biết giữ lòng tin yêu mà giữa người và vật tríu mến là bất tín. Thử hỏi cả 5 điều nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đã mất hết rồi, còn sống được với ai? .

&

QUẺ 066:

Sự trì chí tốc. Nhi thả phản phúc,

trực đãi tuế hàn, hoa tàn quả thục.

事 遲 志 速 。而 且 返 覆。

 直 待 歲 寒。 花殘 果 熟

Dịch nghĩa:  Sự tình trì muộn, chí lo nhanh

Phản đi phúc lại việc tuần hành

Hãy đợi tháng đông lòng ý toại

Hoa tàn quả kết, vẹn muôn phần.

Chú  giải:  bốn mùa trời đất phân định: Xuân sinh hoa, Hạ tăng trưởng, mùa Thu thâu hoạch, đông thì tàn tạ, đồng thời cũng là mùa gặt hái nữa. Con người cũng không  thoát ra định luật ấy. Nghĩa là từ bé đến 15 tuổi hãy còn thơ ngây, lớn lên chút nữa cho tới 30 xem như nửa cuộc đời. Qua trung niên tới 50 đứng đắn người. Tới 60 mươi xem như mức giới hạn. Khi qua tuổi 70 rồi kể như “Thất thập cổ lai hi”. Làm người phải dốc chí làm việc, không được trì hoãn, dù tuổi nào cũng phải sống hữu ích. Một giờ qua là một lần tuổi đời rút ngắn lại. Nay Đạo Cao Đài ra đời Thầy dặn rằng: Thầy đến chẳng phải lập một nền Đạo mới, mà đến đặng nhắc các con rằng: Ngày tận tuyệt đã hầu gần, Quỉ Vương sắp đến, Thánh ngôn các Đạo đã khai từ thuở tạo thiên không đủ kềm thúc nhơn sanh đặng trọn lành. Đời càng ngày càng trở nên hung bạo, nhơn loại giết lẫn nhau, cả hoàn cầu giặc giã, bịnh chướng biến sanh, thiên tai rắp đến. Ấy là các điều Thầy đã nói tiên tri rằng: Ngày tận thế đã đến! Thầy  đã tạo thành đủ cả Pháp Luật. Thầy đến chỉ độ kẻ vô Đạo chớ không phải sửa Đạo. Các con hiểu à!” (23-11 Bính Dần – 1926)

&

QUẺ 067:

Thừa mã tiền tấn, sở cầu cát trinh.

Tuỳ thời hài mỹ, khuyết nguyệt trùng viên.

乘 馬 前 進。 所 求 吉 貞。

 隨 時 諧 美。 缺月 重 圓。

Dịch nghĩa:   Đường dài lên ngựa thẳng dong

Cầu xin việc tốt hoài mong thoả tình

Tuỳ thời mỗi việc thêm xinh,

Vầng trăng hết khuyết lại in gương tròn.

Chú giải: Đường dài nếu cứ tiến mãi lên như nước nguồn tuông đổ sẽ đưa về biển cả. Nhân loại theo đuổi việc hữu hình nhiều ngàn năm rồi, nhưng hữu hình hữu hoại. Có ai thấy được cái văn minh khoa học càng lên cao con người càng mất gốc, sự suy tồi của nhân loại của thời mạt pháp này hầu như đưa tư tưởng phần đông hướng hạ nhiều hơn hướng thượng. Nếu vầng trăng tròn lại sau khi khuyết nó cũng phải qua một chu kỳ mới. Tức nhiên văn minh vật chất đến lúc rã rời, thì văn minh tinh thần mới khởi phát:

            Thầy dạy:“Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Ðộ, các sự hữu hình phải hủy phá tiêu diệt. Thầy đến chuyển Ðạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi, chẳng thế nào diệt đặng. Th... Thầy đã khiến con đi Ðế Thiên Ðế Thích đặng xem cho tạng mặt hữu hình, nội thế gian nầy, ngày nay ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng đạo đức con Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến. Thầy không muốn cho con hao tài, tốn của, mà gìn giữ sự giả dối”.

&

QUẺ 068:

Châu ly tại độ nguyệt ly vân,

Nhân xuất đông quan hảo vấn tân,

Thả hướng tiền hành  khứ cầu trú,

Hà tu nghi lự lưỡng tam tâm.

   舟 離 在 度 月離 雲

  人 出 潼 關 好問 津

  且 向 前 行 去 求 住

   何 須  疑 慮 兩 三 心

Dịch nghĩa:  Thuyền rời xa bến, trăng mây cách

Vượt khỏi đồng quan hỏi bến đâu ?

Thẳng đường tiến bước rồi yên nghỉ

Ngần ngại ích gì, liệu nghĩ sâu.

Chú giải: Thuyền xa bến cũng như đạo đức vắng nơi lòng,

Thử nghe xem đức tin yếu quá. Cửa trống đủ thứ tạp nhạp sẽ xen vào quấy rối. Trời Phật nơi mình chẳng ở xa.

“Bát Nương Diêu Trì Cung nói: “Việc các Ðấng phú thác cho mình, hoặc yêu cầu mình thi hành một vấn đề nào, nếu mình trọn tin mạng pháp thì các Ðấng cũng ghi công cho. Nhược bằng mình không tuân hoặc lười biếng, trễ nải, thì các Ðấng lại ghi tội cho. Vậy xin các anh, các chị rán hiểu giùm: muôn việc chi khởi đầu đều khó. Nhưng cái khó mình lướt qua đặng mới có công, mới anh hùng, mới chí sĩ, mới đáng đạo sĩ. Quí anh, quí chị đều ăn sung mặc sướng, ngày nay đổi lại chịu phận nâu sồng, cũng khá thương đó. Nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử: "Cư bất cầu an, thực bất cầu bảo", chỉ cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi; biết người quên mình, đó là phận sự kẻ tu hành, đến bực tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa vụ.

&

QUẺ 069:

     Bất túc bất túc, nan thần tâm khúc,

     Dã đường vũ, quá nguyệt như câu,

 Mộng đoạn Hàm đan my đại sầu.

不 足 不 足 。難神 心 曲

野 塘 雨 。過 月如 鉤

夢 斷 邯 鄲 眉黛 愁

Dịch nghĩa:  Không đủ rồi không đủ

Khó phân giải nỗi lòng

Ao đồng hứng mưa trăng còn khuyết

Giấc mộng Hàm đan mấy giọt sầu.

Chú  giải: Nếu người chưa biết đủ, chưa biết bằng lòng với hiện tại, thì cũng nên buồn riêng cho mình đi, vì cái

thế giới này có đến vô cùng tận chắc không bao giờ mình được toại lòng đâu!. Riêng Thánh nhân thì dạy khác: phải biết đủ thì được đủ, đợi cho đủ đến bao giờ mới đủ. Biết nhàn thì được nhàn, đợi nhàn đến bao giờ mới nhàn? Do câu: “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc.? Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?” Con người đang sống trong xã hội thực tại đừng mộng mơ, viễn vông vô ích. Muộn đó

Thi văn dạy Đạo có câu:

Huỳnh lương một giấc cuộc đời in,
            Có trí có mưu phải xét mình.

Phú quí lớn là giành với giựt,

Lợi danh cao bởi mượn và xin.

Trăm năm lẩn-quẩn đường Nhơn-Nghĩa

Một kiếp đeo-đai mối nợ tình

                                                            Biết số, biết căn tua biết phận

                                                            Đường xưa để bước lại Thiên-Đình.

&

QUẺ 070:

Mỹ hữu kham, kham hữu mỹ

       Thuỷ hữu chung, chung hữu thuỷ.

美 有 堪 。堪 有 美

始 有 終 。終 有 始

Dịch nghĩa:  Đẹp, khá chu tuần nối tiếp nhau

Trước sau, sau trước cứ vần xoay

Việc được kết tinh đầu đến cuối

Cuối rồi ngoảnh lại thấy ban đầu.

Chú  giải: Chuyện này là hình ảnh của một vị sãi khi mới đi tu thì thấy núi là núi, nước là nước. Một thời gian sau thì người nhìn lại thấy núi không phải là núi, nước không phải là nước. Sau cùng, khi người nhận chân được giá trị của cuộc đời thì núi vẫn là núi, nước vẫn là nước. Tại sao vậy? Hãy nhìn theo hướng mắt của người tu ở giai đoạn đầu và cuối, hai cái thấy này giống nhau, nhưng ý nghĩa thì khác hẳn. Cái thấy ban đầu còn ngô nghê chưa hiểu tu là gì cả, nên tất cả đều là hữu thể. Nhưng giai đoạn sau

cùng người tu được chứng ngộ, hiểu được định luật của hóa công. Còn giai đoạn giữa là thời gian mà tâm linh biến đổi mạnh nên thấy hoang mang, chới với trong đường tu.

&

QUẺ 071:

Hồ hãi du du, cô châu lãng đầu , lai nhân vị độ,

tàn chiếu sơn lâu.

湖 海 悠 悠 孤 舟 浪 頭 來 人 未 渡 殘 照 山 樓

Dịch nghĩa:   Mênh mông mặt nước bể hồ,

Chiếc thuyền đầu sóng nhấp nhô một mình

Người qua chưa gặp đò nghinh,

Bóng chiều còn gác lầu quỳnh non xa.

Chú  giải: Chiếc thuyền mà người mãi chứng kiến đây là thuyền đạo, sao mãi cứ chơi vơi. Bởi cuộc đời không định hướng. Phải củng cố đức tin nhiều hơn nữa mới được. Thầy dạy: “Ðặng một việc chi chớ vội mừng, thất một việc chi chớ vội buồn; vì sự mừng vui và buồn tủi thường pha lẫn kế cận nhau; còn sự gì phải đến cho con, ấy là tại nó phải vậy; chớ cượng cầu mà nghịch Thánh ý Thầy. Hãy xem dò theo đây mà day trở trong bước đường Ðạo.

Mối Ðạo từ đây rán vẹn gìn,
Tu là khổ hạnh khá đinh ninh.
Lòng thành một tấm Trời soi xét,
Gương rạng nghìn thu nguyệt chiếu minh.
Gai gốc lần đường công trước gắng,
Thảnh thơi có lúc buổi sau dành.
Vòng trần chìm nổi từ đây dứt,
Công quả tua bền độ chúng sinh.

&

QUẺ 072:

Thâm hộ yêu lao cục, đề phòng ám lý nhân,

Mạc ngôn vô ngoại sự, túng hảo định tao truân.

深 戶 要 牢 局 。隄 防 暗 裏 人。

莫 言 無 外 事。縱 好 定 遭 迍。

Dịch nghĩa:   Trong cuộc tình sâu khá liệu gìn

Đề phòng bóng tối chớ xem khinh

Tiểu nhân đáng ngại lòng thâm hiểm.

Tuy việc vuông tròn chớ cả tin.

Chú  giải: Nếu trong đời bế tắc là  thời kỳ của tiểu nhân mưu, nước loạn, dân khổ. Nếu qua lúc hanh thái thì đó là thời của quân tử mưu. Lòng dạ con người ghê gớm thật.

Thầy dạy: “Khi giáng trần "Chí Tôn Phật Tổ", Thầy duy đặng có bốn môn đệ, chúng nó đều chối Thầy. Khi giáng lập Ðạo Tiên, Thầy có một trò là Nguơn Thỉ. Khi lập Ðạo Thánh, thì đặng 12 môn đệ, song đến khi bị bắt và hành hình, thì chúng nó đều trốn hết, lại còn bán xác Thầy nữa. Còn nay, Thầy đã sắm sẵn môn đệ cho con cũng đã nhiều, con đừng thối chí. Thầy thường than rằng: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh, nên Thầy nôn nóng, nhưng thiên cơ chẳng nghịch đặng, ma quỉ hằng phá chánh mà giữ tà, chư Tiên Phật trước chưa hề tránh khỏi. Còn cái địa vị cao trọng nó làm cho nhơn tâm ganh gổ, con phải lấy Phật Tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy. Nếu Thầy dùng quyền pháp Chí Tôn thì mất lẽ công bình thiêng liêng tạo hóa. Con cứ lo lập luật, để công phổ độ cho chư đạo hữu con hưởng chút ít.

&

QUẺ 073:

Giang hải du du, yên ba hạ câu,

Lục ngao liên hoạch, Ca tiếu trung lưu.

江 海  悠 悠。煙 波 下鉤。

六 鰲 連 獲 。歌 笑 中 流

Dịch nghĩa Mênh mông hồ bể đó.Sóng gió liệu buông cần

   Sáu ngao đều tóm được. Giữa dòng hát hoan hân.

Chú giải: Trời  nước mênh mông là cảnh trần ai này. Người độc chiếm ngao đầu là công danh thành đạt. Đường đời vui tươi đó, nhưng nên nhớ làm sao phải cho Âm Dương quân bình, nghĩa là Đạo đời tương đắc, nếu đời thịnh tức âm thắng dương, e không đủ sức chống đỡ. Vì danh vọng càng cao sinh ra ngạo mạn mà thất lễ với Trời Phật, ăn năn không kịp. Phải chỉnh lại tâm mình cho vẹn.

Thầy dạy: “Thầy hằng nói với các con rằng: Thà là các con lỗi với Thầy, thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ, chớ chẳng nên động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì họ chẳng tha thứ bao giờ". Thầy lại cũng đã nói: Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng đàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ". Các con nếu mắt phàm thấy đặng phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng; nhưng thấy chẳng đặng nên tội cũng giảm nhẹ đó chút. Thất lễ là đại tội trước mắt các Ðấng Chơn linh ấy, Thầy phải "thăng" cho các con khỏi hành phạt. Thầy chẳng buổi nào chấp trách các con, bởi lòng thương yêu hơn chấp trách rất nhiều; sợ là sợ cho các con mất đức với chư Thần, Thánh, Tiên, Phật”.

&

QUẺ 074:

Dục tế vị tế, dục cầu cưỡng cầu

Tâm vô nhứt định, nhứt xa lưỡng đầu

欲 濟 未 濟 。欲 求 強 求 。

心 無 一 定。 一 車 兩 頭

Giải nghĩa:   Việc muốn vuông tròn chửa gặp đâu

Cầu mong khẩn thiết chỉ gượng cầu

Lòng chưa nhất định vào đâu cả,

Như chiếc xe kia quá một đầu.

Chú  giải: Đường đời muôn vạn lối, chí cả muốn vươn cao. Tâm chưa an định, như một chiếc xe mà có đến hai đầu, làm sao điều khiển. Khác nào ôm bọc rắn vào mình.

Thanh Tâm Tài Nữ giáng Cơ ngày 23-4-1928 than: “Ðạo mở rộng, giống Ðạo gieo đã trót hai thu, mà người thiệt vì Ðạo chẳng có bao nhiêu, thế nên hồi chưa mở rộng nền Ðạo, Ðức Thích Ca dòm vào thế cuộc mà than rằng:

                “Lộ vô nhơn hành, điền vô nhơn canh,            

                “Đạo vô nhơn thức, ta hồ tận chúng sanh!"

            Sao gọi: Lộ vô nhơn hành ?-Ðường có người đi nhiều, mà không ai là người phải, đường đi dập dìu thiên hạ mà toàn là ma hồn quỉ xác, tâm giả dối, hạnh hung bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người. Còn điền vô nhơn canh là sao? -“Ruộng đây, là tỷ với tâm, tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi tâm, thì tâm ví như điền, có điền mà chẳng có cày bừa, đặng đem hột lúa gieo vào, cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất phải bỏ hoang; bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít xen vào ẩn trú; người mà có tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu, đặng cho buổi gặt hưởng nhờ, mà không chịu làm thế thì phải diệt tận chơn linh. Hai câu sau là kết cuộc”.

QUẺ 075:   Nhứt đắc nhứt lự, thoái hậu dục tiên

           Lộ thông đại đạo, tâm  tự an nhiên.

一 得 一 慮 。退 後 欲 先 。

路 通 大 道 。心 自 安 然

Dịch nghĩa:  Được đó rồi lo cũng lắm cơn

Thoái bước ra sau ý vượt hơn

Đường lớn khá thông tâm ý mãn

Lòng tự nhiên an dạ chớ sờn.

Chú  giải: Được một lại lo một. Lùi một bước để tiến thêm nhiều bước “Trần tục là nơi chỗ biển buồn” là thế. Nếu biết nhận chân ra con  đường lớn là thênh thang toại ý, thì chỉ có con đường đạo đức mà thôi. Khá quay đầu. Đức Hộ-Pháp nói: “Đức Chí-Tôn dùng Huyền Diệu Cơ Bút giáng Cơ khai Đại Đạo, chủ nghĩa là độ tận 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa đoạ cõi hồng trần nên gọi là cơ quan Cứu thế. Nếu Đức Chí-Tôn chiết chơn linh giáng thế như các vì Giáo chủ trước thì phải tá mẫu đầu thai, mang phàm thể hữu vi, lại nữa là Đạo khai trong nước Việt-Nam thì phải thọ sanh hình hài người Nam Việt thì có thể nào chuyển ba mối Đạo khắp Ngũ châu và toàn cầu thế giới đặng. Lại nữa các dân tộc trong Vạn quốc không thể hiệp đồng sự Tín ngưỡng làm một thì khó mà độ tận chúng sanh, cho nên Đức Chí-Tôn giáng bằng Huyền Diệu Cơ Bút đặng làm cho các nước để trọn đức tin rằng một Đấng Chí-linh giáng thế cứu đời qui tụ cả khối tinh thần của nhơn loại duy nhất. Chỉ rõ bằng cớ như kỳ các Tôn giáo tại Luân đôn thì các nước đều công nhận Đạo Cao Đài là chơn thật có thể qui nguyên Đại-Đồng Tôn giáo và tại Toà Nội các năm 1933 Hạ Nghị Viện có 424 vị thân sĩ cùng đồng bỏ thăm toàn công nhận Đạo Cao-Đài.”

&

 QUẺ 076: Nan nan nan,  hốt nhiên bình địa khởi ba lan

     Dị dị dị , đàm tiếu tầm thường chung hữu vọng.

難 難 難 忽 然 平 地 起 波

易 易 易 談 笑 尋 常 終 有 望

Dịch nghĩa:  Mọi việc khởi đầu gặp khó khăn

Tự nhiên sóng gió nổi đồng bằng

Sau rồi việc dễ theo nhau đến

Cười nói tầm thường dạ tự an

Chú  giải: Câu “Vạn sự khởi đầu nan” cho ta nhận thấy muôn việc khởi đầu đều khó. Tuy nhiên, nếu kiên trì vượt qua được rồi thì sẽ hanh thông. Phải gắng công  mới được.

Thánh Ngôn: “Thầy lập nền Ðạo nầy ra, do nơi Thiên thơ, lại cũng có lòng Từ bi, để vớt cả mấy chục triệu nguyên nhân lớn lao trở hồi cựu vị. Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy, nên chẳng nại công lao khó nhọc, yêu cầu cùng Tam Giáo nới tay cho Thầy cứu rỗi các con. Than ôi ! Công trình Thầy và các Ðấng Thiêng liêng thì nhiều mà tấc thành của mỗi con thì không đặng mấy. Nhiều phen sóng khổ muốn chìm đắm các con mà Thầy phải sợ cho đến nhăn mày khổ lụy.”

&

QUẺ 077:

Tâm hữu dư, lực bất túc,

ý trượng xuân phong. Nhứt ca nhứt khúc.

心 有 餘 力 不 足 倚 仗 春 風 一 歌 一 曲

Dịch nghĩa:  Lòng thừa toan tính sức không kham

Nương tựa gió xuân ý ngập tràn

Một khúc một ca vui thoả dạ

May duyên lối bước vẫn khang trang.

Chú  giải: Sống, làm người phải dùng hết thời gian cho sự toan tính, đừng trễ nãi, đừng biếng nhác. Người đời hay thở than cho sức khỏe không còn đủ để thực hiện những ước muốn là do câu “Lực bất tùng tâm”. Thật là trớ trêu ! Vì tuổi già, vì đau bệnh đó là lý cớ mà người phải đầu hàng trước sự việc. Hầu như tất cả những trái tim đạo pháp vẫn chưa bao giờ đủ thời gian cho người giải quyết mọi việc. Nhớ lại Đức Giáo chủ của nền Đại Đạo là một chứng cớ hùng hồn nhứt. Ngày mà Đức Ông từ giã cõi đời rồi vẫn giáng Cơ tiếc nuối:

   ….Nào hay vạn sự do Thiên định,

Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.

Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi,

Buồn nhìn cội Đạo luống chơi vơi.

Rồi đây ai đến cầm Chơn pháp?

     Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời

&

QUẺ 078:

Thân bất an, tâm bất an

Động tĩnh lưỡng tam phan.Chung triêu sự tất hoan

身 不 安。 心 不 安 。

動 靜 兩 三 番 。終 朝 事 必 歡

Dịch nghĩa: Thân không an tịnh lòng chưa toại

Động tĩnh mực chừng nghĩ thiệt hơn

Đôi ba lần nghiệm thời cơ đến

Kết cục vui tươi việc vẹn toàn.

Chú  giải: Xưa Đức A-Nan-Đa thường hỏi đạo, học đạo với Phật tổ, Ngài nói rằng: Xin thầy an tâm giùm con. Phật nói: Hãy đưa tâm đây ta an cho ! Từ đấy Ngài A-nan-Đa tỉnh ngộ. Vì sao? Vì chính ta an tâm cho ta mà thôi. Cũng như câu chuyện hai chú tiểu nhìn thấy phướn lay trước  gió. Một người nói: Phướn động! Một người cải lại. Không, gió động! Vị Thầy bước ra nói: Tâm các con động.

Đức Phật Thích-Ca dạy các đệ tử rằng: Ngươi hãy tự kiếm Ngươi “Theo Đức Phật thì người hãy tự suy nghĩ và xét mình đặng biết mình là ai ? Mình thật biết mình rồi mới biết định giá-trị của người khác. Thường, người ta chỉ lo tìm kiếm những điều ở ngoài mình, chớ không tìm kiếm những cái ở trong con người của mình, thế nên dây oan kết mãi, nghiệp chướng càng mang, biết chừng nào mới tỉnh ngộ đặng phản-bổn huờn nguyên”

           Thầy Tăng Tử xưa là một bậc hiền-triết mà còn “nhứt nhựt tam tỉnh ngô thân”  tức là hằng ngày Xét mình trong ba điều :

*Một là lo việc cho người không hết lòng bằng việc mình, có thế chăng ? 

           *Hai là giao-du với bè bạn mà đem lòng giả dối, có vậy chăng ? 

           *Ba là nghe lời Thầy dạy mà xao-lãng,có vậy chăng

&

QUẺ 079:

Sự liễu vật vị liễu, nhân viên vật vị viên, yếu tri đoan đích tín, nhựt ảnh thượng lang can.

    事 了 物 未 了。 人 圓 物 未 圓 。

  要 知 端 的 信。 日 影上 欄  玕。

Dịch nghĩa:  Giờ khắc qua rồi việc chửa xong

Người toan tính kỹ việc không đồng

Tin thư xác thực cần hay sớm

Bóng nắng rạng soi trước điện công.

Chú  giải: Thời gian qua mà việc chưa rồi, người toan tính như vậy mà việc không được vậy.Phải hỏi lòng mình xem:

Có phải không được thời chăng ? Không được lòng người chăng ? Do mình vụng tính chăng? Việc đời cũng thế mà việc đạo cũng thế. Người Tín hữu Cao Đài phải nhớ rằng:

          Thầy có chỉ rõ: “Phải thường hỏi lấy mình khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa mà lương-tâm có điều chi cắn rứt chăng ? Nếu phận còn nét chưa rồi lương-tâm chưa đặng an tịnh, thì phải biết cải quá, ráng sức chuộc lấy lỗi đã làm thì các con có lo chi không bì bực chí Thánh. Thầy mong rằng mỗi đứa đều lưu-ý đến sự sửa mình ấy thì lấy làm may mắn cho nền Đạo;  rồi  các con sẽ đặng thong-dong mà treo gương cho kẻ khác, các con thương mến nhau, dìu dắt nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó”.

&

QUẺ 080:

Mộc hướng dương xuân phát.

Tam âm hựu phục căn.

        Tiều phu bất tri đạo.  Dục khứ tác sài cân.

。三 根。

                 。欲 薪。

Dịch nghĩa:  Nắng xuân cây cỏ đượm nhuần

Bóng râm che khuất mấy lần rễ thân

Tiều phu kiếm củi trên ngàn,

Ý về giục giã gánh xoàng củi khô.

Chú  giải: Cỏ cây luôn theo hướng nắng của mặt trời mà phát, gọi đó là quang hướng động thuận, chính nó biết tìm về Thượng Đế, nó tu đó. Làm người há quên Đạo, xa Phật trời sao ? Đạo luôn phát khởi từ Đông rồi mới dần dần ra các nơi khác, đó là nguyên lý của Càn Khôn vũ trụ. Câu Kinh “Ánh thái dương giọi trước phương Đông”. Ánh Thái-dương là Đạo đó vậy. Nay đã đến Hạ-nguơn mạt kiếp, cuối cùng nên Đức Chí Tôn mới chuyển Đạo nơi vùng Á-Đông, đấy là nơi nguồn Đạo phát ra, lại khai nơi Nam-kỳ (một trong ba kỳ nơi cõi Á-đông). Vì cõi Đông dương đây cũng về miền Đông của Á-Châu nên ngày nay phải khởi khai nơi hướng ĐÔNG trước rồi mới truyền lần ra  hướng Tây. Như Đức Chúa Jésus khai Đạo bên Âu châu, thì cũng khởi khai nơi miền ĐÔNG của Âu-Châu, rồi mới loan truyền khắp cả Âu-châu, ấy là luật tự-nhiên từ cổ chí kim, hễ Đạo phát khai thì cứ bắt đầu từ phương Đông truyền ra. Ngày nay là giáp một vòng nên khởi lại điểm ban đầu gọi là “Thiên địa tuần hoàn châu nhi phục thủy” do đó nền Đại-Đạo phải khai tại Á-Đông này nên Thầy mới mở Đạo nơi Đông-dương là cực Đông của Á châu mà lại khai nơi xứ Nam-kỳ là xứ thuộc-địa, dân-tộc yếu hèn, kém cỏi, ấy là do nơi Thiên-cơ tiền định cả muôn năm, lại là thưởng cái lòng Tín-ngưỡng của người Nam từ thử. Tuy khai Đạo tại nước Nam mà cũng khởi từ Đông, do cái lý từ Bàn-cổ sơ khai: “Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, nhơn sanh ư Dần” 天開於子地藉於丑人生於寅. Do vậy mà Đạo khởi khai tại Tây-Ninh lần lần truyền ra Gia định, Biên Hòa, Thủ-Dầu-Một, Chợ-Lớn là mấy hạt ở hướng Đông. Qua năm thứ nhì, thứ ba Đạo mới truyền ra mấy hạt hướng Tây”.

&

QUẺ 081:

               Nhứt nguyệt khuyết, nhứt kính khuyết,

Bất đoàn viên, vô khả thuyết.

      一 月 缺 一 鏡 缺 。 不團 圓 無 可 說

Dịch nghĩa:  Vầng trăng kia hãy còn vơi.

Vành gương lại khuyết điềm trời rẽ phân.

Đoàn viên chưa thấy đến gần

Giải bày tâm sự nói năng khó tường.

Chú  giải:  “Cơ sanh-hoá càn-khôn không ngoài luật định 

thành, trụ, hoại, không, tức nhiên: lập lên,  tồn tại, biến chuyển hư hao rồi tiêu mất. Sự nói mất chớ thật ra chẳng phải là tiêu mất đâu. Nó chỉ biến chất thay hình đổi dạng mà thôi.Tỷ như nước của con sông ngày hôm nay, không phải là nước của con sông ngày hôm qua; tuy cùng  chảy ra biển cả, nhưng nước của  sông  luân-lưu từng giờ, từng phút. Nước của ngày hôm nay không phải là số nước của ngày hôm sau nữa. Cả xác hài ta mang đây cũng vậy, nó cũng biến-chuyển từng giờ, tùng phút. Tế-bào này tiêu diệt để cho tế-bào kia tăng trưởng, nó luân-chuyển mãi ở các xác thân và thay đổi khí-chất luôn tùy theo các hành-động  của mình,  có tăng hay có giảm. Tuy vậy mà số tăng luôn luôn nhiều hơn số giảm, là vì nó là cơ tấn-hóa; nếu không có vậy thì là tiêu-diệt  cả càn-khôn thì còn gì.Luật  tấn-hóa ấy là công-lệ hiển-nhiên của tạo-hóa. Phải tấn-hóa để các chơn-linh thấu-đáo những điều mầu-nhiệm mà tạo-hóa sắp đặt sẵn trước ở cả càn-khôn vũ-trụ. Tất cả đều để trước mắt những bài học hay. Cái cảnh khổ chính là bài học tấn hóa nhanh chóng nhất; Vì vậy những chơn-linh nào dám chịu khổ là những chơn-linh  tấn-hóa mau hơn hết . Nhưng thật sự cũng chẳng phải là “ khổ ” đâu !

&

QUẺ 082:

Xa mã đáo lâm, tinh kỳ ẩn ẩn, nguyệt phân minh, chiêu an kế bạn, vĩnh đại tiền trình.

車 馬 到 臨 旌 旗 隱 隱 。月 分 明 招 安 計 叛。

永 大 前 程。

Dịch nghĩa:  Ngựa xe đã đến, trống cờ đâu?

Trăng sáng rõ soi chiếu ánh làu

Giặc loạn dẹp tan, phường phản nghịch

Đường dài rộng lối đón anh hào.

Chú  giải: Trong  cái phước có ẩn điều họa, thì trong cái họa cũng có ẩn điều phước.Thế nên câu “Phước bất hưởng tận”là vậy.Cho nên sự may rủi ở đời khó lường trước được  Đức Lý giải thêm rằng: “Tà Chánh, cười....Bần Đạo nói thiệt cũng chưa dám định đoạt. Trong cái rủi thường có sự may; trong cái may vẫn khép cầm sự rủi, khó lường được. Ðiều cần là nên làm mà thôi. Nếu luận Tà Chánh thì chưa một ai dám còn mang mắt phàm xưng tụng mình là Chánh. Cái Tà vì Thiên thơ sử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Tòa, Tà vì những quỉ xác ma hồn lẫn lộn của Quỉ vương để làm cho công phu lở dở. Mỗi cái Tà có duyên cớ ấy, ngày sau đều có sự biến đổi thiêng liêng hoặc có một kết quả. Ngày chung qui chỉ đem về Thầy một chữ Tâm và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng.”

&

QUẺ 083:

Ngã hà túc, ngã hà túc, hải đông hà bắc

Thành danh lục, nhứt ban thần quang,

 trực xung thiên độc.

我 何 宿 我 何 宿。 海 東 河 北。 成 名 錄。

                一 般 神 光。 直 沖 天 瀆

Dịch nghĩa:  Gác trọ nơi nào chửa biết đâu?

Biển Đông sông Bắc khó thông nhau

Công thành danh toại thần quang trợ

Thẳng lối mây xanh rạng tướng hầu.

Chú  giải: Cái danh vị trong đời ai ai cũng đều mơ vọng, thậm chí đến điều là dầu cho phải làm việc thất nhân tâm cũng không từ. Ôi ! Đáng tiếc thay, “thực lại bỏ, giả vay nên nợ”..Sống, phải có định hướng. Làm người khó ! Làm

người khó! Đạo Dịch là gì ? Là trung chánh thôi vậy .

       -  Dịch khiến cho việc trong thiên-hạ không Trung trở về chỗ Trung,

       -  Dịch khiến cho việc trong thiên hạ không Chánh trở về chỗ Chánh. Trung chánh mà lập lại đặng rồi thì cuộc biến-hóa của vạn-vật được thông vậy.

          “Nói cho đúng, trong vạn sự vạn-vật, không có vật gì là không Trung, không vật gì là không chánh: nghĩa là trong cả những sự gọi là “bất trung, bất chánh” thì đã có những sự trung chánh rồi. Cho nên mới nói không có gì là quân-bình ngay trong những điều xảy ra không quân bình. Thực sự là những quân-bình tạm đang tìm cách lập quân bình chung của sự vật trên đời; Hay nói một cách khác, chính ngay trong những sự vật mất quân-bình Ta mới thấy rõ luật quân bình của trời đất.  Cả Trung chánh ấy là cái trọng tâm, cái trọng lực khiến cho cặp âm dương không bao giờ lìa nhau được: vạn sự, vạn-vật không bao giờ dừng biến hóa;  bởi một mở, một đóng gọi là biến, qua lại không cùng gọi là thông”.

&

QUẺ 084:

Kim lân nhập thủ, đăc hoàn phòng tẩu,

nhược luận châu tuyền, cẩn ngôn giảm khẩu.

金 鱗 入 手。 得 還 防 走 。

若 論 周 旋 。謹 言 緘 口

Dịch nghĩa:  Kim lân nắm trọn vào tay

Xem chừng kẻo mất thật hoài công to

Luận bàn hơn thiệt đắn đo

Gìn lời cẩn thận liệu dò phân minh.

Chú  giải:  Vật quí đã vào tay nhưng lòng còn lo sợ mất. Thế nhân luôn canh cánh bên lòng một nỗi lo vô tận. Vậy thì có một điều dễ mất mà ít ai lo nghĩ tới đó là lòng nhân ái, vì khi mình sợ mất của quí thì phải đề phòng bằng mọi cách và sẵn sàng đối phó cũng bằng mọi cách dù bất nhân.

Thánh ngôn Thầy dạy:

Phải giữ chơn-linh đặng trọn lành.

Ngọc-Hư toàn ngự Đấng  tinh-anh

Luật điều Cổ-Phật không chừa tội.

Hình-phạt Chí-Tôn chẳng vị tình.

Chánh-trực kinh oai loài giả dối.

Công-bình vừa sức kẻ chơn thành.

Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn.

Biết sợ xin khuyên cẩn-thận mình

&

QUẺ 085:

Khuynh nhứt bôi, triển sầu mi,

thiên địa hợp, hảo tư vi.

傾 一 盃 展 愁 眉。 天 地 合 好 思 為。

Dịch nghĩa:  Mày buồn theo chén rượu nghiêng

Âm dương đã thuận có phiền lòng ai,

Nghĩ suy ứng được lòng Trời

Thiên thời, địa lợi, duyên người đều may.

Chú  giải:  Thánh nhân xưa dùng rượu giải sầu “Tam bôi thông Đại-Đạo”. Người nay dùng rượu để chuốc sầu. Than ôi ! Thời cùng thế  tận. Phải rõ thông lý đạo thì mới bình an cho tâm hồn. Ấy là luật  Âm Dương chi phối mọi mặt.

Lưỡng-nghi là cơ âm dương  phối-hợp, thì bất cứ vật chi chi trên trời đất này cũng đều do Âm dương mà sản xuất, cũng gọi là lý nhị nguyên đó vậy. Âm với dương vốn là cơ động tĩnh, mâu-thuẫn nhau, tương-khắc mà lại tương-hòa. Hai cái lý đối nghịch nhau để hỗ-trợ lẫn nhau chớ không phải để tiêu diệt  nhau”. Trời có sáng  tối; người có Nam nữ; vật có cứng mềm; đất có nắng mưa; vạn-loại có trống mái; cho chí đến loài cây cỏ mới nẩy chồi thì ra hai lá đầu tiên ấy là hình-tượng của âm dương đó. Âm dương vốn là cơ sản-xuất, nhưng trong âm có dương và trong dương có âm .Nho-gia gọi là “Vạn-vật phụ âm nhi bảo dương, trung chí dĩ nhi hòa” là vậy (gọi là vạn vật ôm-ấp âm dương, đến mực trung -dung thì gọi là hoà)

            “Theo Bí-pháp chơn-truyền của cơ sanh-hóa phải có đủ âm dương. Trong sanh-quang chúng ta có điện quang (Positif và Négatif) cũng như vạn-vật có trống mái Nền Tôn-giáo nào có đủ âm dương thì nền Tôn-giáo đó  mới  vĩnh-viễn. Như Đức Chúa Jésus-Christ ngày trước bị đóng đinh trên cây Thánh-giá đầu thuận lên trên gọi là đạt dương, ông Thánh Pierre là đệ nhứt Tông-đồ, bị đóng đinh trở ngược lại gọi là phản âm.  Âm dương tương-hiệp tượng-trưng bí-pháp, nên Đạo Thánh lưu- truyền hai ngàn năm, không ai dùng quyền gì tiêu-diệt đặng. Chí-Tôn có thể sai con của  Người đến lập Đạo như: Thích-Ca, Jésus, Khổng-Tử” . Nay Đạo Cao-Đài Đức Chí-Tôn mở ra có đủ hai ngôi: ngôi Chí-Tôn và ngôi Phật-Mẫu, tức  là âm dương tương-hiệp  mới có ngôi thứ ba ra đời.

&

QUẺ 086:   Dã quỉ trương hồ xạ chủ nhân,

Ám trung nhứt tiễn quỉ hồn kinh,

Hốt nhiên hồng nhựt trầm giang hải,

Nan phá không trung sự bất minh.

野 鬼 張 弧 射 主 人

暗 中 一 箭 鬼 魂 驚

忽 然 紅 日 沉 江 海

                            難  破  空  中 事 不明

Dịch nghĩa:  Quỷ đồng trương cung bắn chủ nhân

Khua vang bóng tối quỉ hồn kinh

Thình lình bóng đổ rơi trong biển

Tình sự không bàn được rõ minh.

Chú  giải: Trong đời này khi nói đến  Phật thì nói đến ma, khi nói Trời là nói đến Quỉ. Nhưng “Phép Công bằng của Đức Chí-Tôn là một cây Cân Công bằng: Một đầu là Tiên, Phật. Một đầu là Ma Quỉ. Chánh tà phân biệt đôi bên, ấy là phép công bình lành siêu, dữ đọa. Đức Chí-Tôn muốn cho con cái của Ngài đều đặng cao thăng phẩm-vị thiêng liêng chớ không bao giờ mà phải đào-tạo Địa-ngục để đày-đọa, hình phạt nhơn-sanh, mà trái lại tại nhơn-sanh tạo cảnh khổ ấy”.

&

QUẺ 087:

Phúc tinh chiếu, cát tú lâm,

Thanh thiên hữu nhật kiến thiên chân,

Long phi hạ đái đáo minh bình.

福 星 照 吉 宿 臨 。青 天 有 日 見 天 真。

龍 飛 下 戴 到 明 庭

Dịch nghĩa:   Phúc tinh chiếu, hiện sao lành

Mặt trời soi sáng nền xanh kia rồi

Rồng bay ắt sẽ gặp thời,

Minh đình đến đậu rạng ngời công danh.

Chú giải: Mỗi người đều mong được phúc tinh chiếu mạng, nhưng không hiểu trong 28 vì sao gọi là Nhị Thập bát tú, mà vì tinh tú nào phúc, vì tinh tú nào gây họa. Cũng như nhân loại muốn thấy được Trời mà hôm nay Trời đến ban cho mối Đạo nhà mà vẫn ngoảnh mặt quay lưng đi. Hãy thấy rõ cái sở-hành chơn-pháp của Đức Chí-Tôn chỉ

dùng  một câu là đủ, có nghĩa rằng: “Đức Chí-Tôn đào tạo chơn-pháp vô lượng vô biên để cho nhơn lọai thi-hành mà đoạt phẩm-vị thiêng-liêng: Thần, Thánh, Tiên, Phật. Chơn-pháp cũng có một như Chơn-luật vậy: 

      - Chơn-luật của Đức Chí-Tôn đã chỉ rõ là Thương yêu

      - Chơn-pháp là Công-bình.

Luật-pháp của Chí-Tôn đã chỉ rõ ra đây toàn cả nhơn sanh đều nghe, hiểu biết và thường có nói; chỉ có một điều là tại không thực hành, nếu con người dưới thế này đồng thi-hành y như chơn-pháp CÔNG-BÌNH  thì đời sẽ trở nên tận thiện tận mỹ; mà cơ tự diệt sẽ tiêu-tan không còn thấy tấn-tuồng bi-ai thảm-đạm như thế”

&

QUẺ 088:

Độc điếu hàn đàm, trung đồ hưng lan.

Thuỷ hàn ngư bất nhĩ, không đái nguyệt minh hàn.

獨 釣 寒 潭 。中 途 興 瀾 。

水 寒 魚 不 餌 。空 戴 月 明 還

Dịch nghĩa:  Một mình sông lạnh buông câu

Nửa chừng sóng dậy biết đâu điềm trời

Nước hàn cá chẳng đớp mồi

Trăng treo sáng khắp lần hồi quày chân.

Chú giải: Trăng treo sáng khắp là cơ Âm, là hình ảnh người mẹ hiền hòa,dịu dàng, êm ái. Nay, duy nhất Đạo Cao Đài đủ cả hai ngôi: Phật-Mẫu là Mẹ, là gốc sanh ra vạn-vật. Phật Mẫu  nắm cơ hữu tướng. Phật-Mẫu là Âm, còn Thầy là Dương. Âm Dương tương-hiệp mới biến Càn khôn, cả Càn-khôn ấy là Tăng, mà người nắm quyền vi chủ hàng Tăng ấy là một vị Phật cầm quyền thế-giới. Phật và Pháp không biến đổi, còn vị cầm quyền thế-giới là Tăng ấy thay đổi tùy theo thời-kỳ. Tỷ như:

Nhứt-kỳ Phổ-độ cầm quyền vi chủ là Nhiên-Đăng CổPhật.

Nhị-kỳ Phổ-Độ là Thích-Ca Như-lai.

Tam-kỳ Phổ-độ là Di-lạc Vương-Phật.

           Hết Tam-kỳ Phổ-Độ thì nguyên-căn qui nhứt, trở lại mở Nhứt-kỳ Phổ-Độ sẽ có vị Phật khác ra đời cầm quyền vi chủ định-luật Càn-khôn. 

&

QUẺ 089:

Bất qui nhứt, lao tâm lực,

quí nhân bàng, nghi tá lực.

不 歸 一 勞 心 力 。 貴人 旁 宜 借 力

Dịch nghĩa:  Việc không qui nhứt khá lo lường

Tổn sức hao tâm ấy sự thường

Khá cậy quí nhân may giúp được

Ân cần han hỏi liệu tìm phương.

Chú giải: Qui  nhứt là thống hiệp làm một. Còn phân tán là còn luân lạc ra đi. Nay, thời kỳ qui hiệp nên Đức Chí Tôn ban cho mối Đạo Trời, tôn chỉ: Tam giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt. Ấy vậy, Đức Hộ-Pháp lưu ý: “Ngày giờ nào khi nhơn-sanh đã tiến bước, Bần Đạo chỉ nói một người mà thôi đoạt được Phật vị thì ngày ấy  Hội-Long Hoa mới mở, mà Hội-Long-Hoa chưa có mở thì Đức Di Lạc chưa có đến”.    

&

QUẺ 090:    Vân tận nguyệt đương trung,

  Quang huy đáo xứ thông,

   Lộ đồ phùng thuỷ thuận,

   Thiên lý khoái như phong.

雲 盡 月 當 中。光 輝 到 處 通

路 途 逢 水 順。千 里 快 如 風

Dịch nghĩa:  Trời trong vằng vặc trăng thanh

Sáng soi khắp chốn tia lành rõ thông,

Đường đi, thuỷ lộ xuôi dòng

Dặm ngàn thuận gió quyết lòng nhanh chân.

Chú giải: Người đời sống trong “Tứ diệu đề Khổ” của  Phật giáo. Thế nên mỗi mỗi đều gây nên một nỗi lo sợ. Khi lên đường bộ thì chúc nhau câu: Thượng lộ bình an. Nếu tiễn nhau trên đường thủy thì chúc nhau thuận buồm xuôi gió. Nhưng khi đã có một điểm tựa cho tâm linh thì không còn sợ sệt gì nữa. Bởi Đạo Cao Đài này là một  “Tôn giáo, Ngài vi chủ năm châu hiệp Tín ngưỡng lại, qui nhứt mà thôi.  Nắm cả Tín-ngưỡng của loài người lại, chính CHÍ TÔN là CHÚA TỂ Càn Khôn Thế Giái, làm CHÚA nền chính trị tại nước NAM, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập QUỐC ĐẠO. Kỳ khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ tạo một linh-đài qui Tín ngưỡng của toàn nhơn-loại, đủ quyền năng tiêu-diệt Tà pháp đặng đem nhơn-loại đến ĐẠI ĐỒNG. Nay Đức Chí-Tôn khai Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đúng theo lời sấm truyền của các vì GIÁO CHỦ ngày xưa.

 

Tư vấn