Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 121 - Quẻ 150

QUẺ 121:

Hư danh hư vị cửu trầm trầm.

Lộc mã đương cầu vị kiến chân.

Nhứt phiến thái vân thu phục chí.

Khứ niên phong vật nhứt thời tân.

虛 名 虛 位 久 沉 沉。 祿 馬 當 求 未 見 真 。

一 片 彩 雲 秋 復 至 。去 年 風 物 一 時 新。

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, hoa và ngoài trời

Dịch nghĩa:   Danh vị chìm sâu tận tháng ngày

Thực danh cầu mãi luống công hoài

Vầng trăng ngũ sắc ngày thu đến

Phong vật năm xưa vẻ mới thay.

Chú giải:  Danh vị của đời do người đời trao tặng có thể

bị mất, người ta cho được lấy lại được, không bằng danh vị thiêng liêng không bao giờ mất, vì đó là của cải số một    của mỗi người đã tích lũy tự ngàn đời. Ngày nay Chí-Tôn mở Đạo để trao lại của cải ấy cho từng người, không ngoài con đường đạo đức, ấy là con đường đi đến vĩnh cữu đó!     

“Nay Đức Chí-Tôn khai Đại-Đạo đem chơn Thần huờn nguyên cùng Tinh Khí là cơ mầu-nhiệm cho chúng sanh đắc Đạo. Ai biết noi theo chơn-truyền luật pháp giữ trai kỳ 10 ngày trở lên đến ngày công viên quả mãn đặng thọ truyền bửu pháp, chơn Thần siêu thăng. Trong buổi Hạ nguơn chuyển thế Đức Chí-Tôn khai Đạo dạy thờ Thiên Nhãn là thờ chơn-thần của Chí Linh cho hiệp cùng Vạn linh tức là thờ ngôi Thái Cực, là thờ Thầy vậy”.

&

QUẺ 122:

Chỉ chỉ chỉ, hữu chung hữu thuỷ.

Tự nguyệt như hoa, thủ thành nhi dĩ.

止 止 止 有 終 有 始 。似 月 如 花 守 成 而 已。

Dịch nghĩa:  Chậm chậm nghĩ suy việc trước sau

Trăng hoa hoà hợp cảm thông nhau

Giữ gìn chung thuỷ câu tương hội

  Thành quả tự nhiên đợi phải cầu?

Chú giải: Chung là điểm cuối, thủy là khởi đầu. Có đầu có cuối đủ cả thủy chung là điều mà thế nhân cầu ước. Nhưng xem chừng lại coi có đủ cả tinh thần và vật chất mới bền vững đó. Lo ngoài quên trong, lo trong quên ngoài, rốt lại như kẻ ra đường có quần mà không áo, hoặc có áo mà quên quần. Khó coi lắm vậy.!  Ngày nay Đạo Cao Đài đến:

Vì Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm. Nay Chí-Tôn đến cho huờn nguyên Tam bửu để đắc Đạo”. Thầy dạy:

Rừng thiền nhặt thúc tiếng chuông trưa

Phước gặp về Ta buổi đã vừa

Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thắm

Sân Ngô rạng vẻ cánh thu đưa

Mai tàn tuyết xủ đời thay đổi

Dữ tận hiền thăng khách lọc lừa

Mùi Đạo gắng giồi lòng thiện niệm

Duyên nay tìm lại phẩm ngôi xưa

. &

QUẺ 123:

Minh nguyệt toàn viên, nhan sắc hân nhiên.

 Phong vân tương tống, hoà hợp vạn niên.

明 月 全 圓 。顏 色 欣 然 。

風 雲 相 送 。和 合 萬 年

Dịch nghĩa:  Vầng trăng đầy đặn sáng trong,

Vui tươi sắc mặt thắm hồng vẻ hoa.

Gió mây đưa tiễn nhau qua,

Muôn năm hoà hợp cảnh nhà hân hoan.

Chú giải: cái cảnh nhàn là đủ cả mây lành trăng sáng, hoa đẹp, gió trong, còn gì bằng ! Người được vậy, đất trời cùng được vậy, ắt cảnh thanh bình thật sự cũng đến rồi đó. Nhưng buồn thay cho nhân loại còn điêu linh, tiếng khóc than chưa dứt, nỡ nào mà toại hưởng một mình sao ? Có gì là thú vị?  Nay, Đạo Cao Đài đến “Thầy dùng quốc ngữ làm chánh tự” tức là dùng ngôn ngữ Việt-Nam để truyền bá Đạo sau này xem như là quốc-tế-ngữ. Vậy chữ quốc ngữ hay chữ Việt-Nam là phương pháp để truyền bá Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, đó là phương “văn dĩ tải Đạo” vậy.

           Trong dịp Đức Chí-Tôn nói chuyện với Hòa Thượng Như-Nhãn, có dạy rằng: “Như-Nhãn Hiền-đồ, Thầy không muốn nói với con bằng tiếng Hớn-Ngôn vì tiếng An-Nam từ đây Thầy cho là tiếng Chánh-tự đặng lập Đạo của Thầy; nên  buộc phải nói rõ với con; con đã giúp Thầy gìn-giữ Thích-Đạo nguyên luật từ thử mới còn đặng như vầy, không thì ra Bàn-môn Tả Đạo rồi”. 

         Hơn nữa tiếng Việt-Nam hiện giờ gốc ở tiếng La tinh nên rất thuận tiện cho người Âu-Châu muốn nghiên cứu kinh sách Cao-Đài, vốn cùng một gốc mà ra nên sự học hỏi sẽ không khó về hình thức của chữ viết nữa.Vui đi!

&

QUẺ 124:

Bảo kính thân, chiếu lưỡng nhân,

Tâm trung kết, hợp đồng tâm.

寶 鏡 親  照兩 人 。心 中 結 合 同 心。

Dịch nghĩa:  Gương báu thân tình những mến yêu.

Chung soi hình ảnh sánh đôi người

Tâm hoà kết chặt tình ưu ái

Ý hợp lòng vui điểm nụ cười.

Chú giải: Được gương báu mà soi chung cho cả hai người thì hạnh phúc quá. Cũng như Đời Đạo chung đôi, âm dương hòa hiệp. Như thế là tốt rồi, nhưng nên nhớ, mình nhìn vào gương trước người, tức nhiên mình thấy và hiểu trước người, thì phải chiếu lại cho người khác thấy nữa chứ! Nhứt là mình là người Việt Nam có nhiều hạnh phúc

“Dân Việt-Nam theo thời cơ thiên-định, tinh-thần rất thông-minh, tài trí, đức hạnh; các hồn linh chuyển kiếp làm con người trong nước, vì mảnh đất Việt-Nam được coi như là một thí điểm. Nam phần Việt-Nam là nơi địa huyệt, thích-hợp với sự tiến hóa của các linh-hồn ấy. Cho nên các linh hồn tốt đẹp, ưu tú khắp nơi hội hiệp tại Nam phần Việt-Nam do luật trời biến động “nguồn ân thánh triết” lâm phàm sẽ thâu các linh hồn ấy vào hàng Môn Đệ của Đức Thượng Đế đúng vào địa-cầu này vậy. Quả đúng như lời tiên-tri của Đức Chí-Tôn về Thượng Nguơn Thánh Đức. Như lời Đức Chí-Tôn dạy:

                 “Một nước nhỏ nhoi trong vạn quốc

                 “Ngày sau làm Chủ  mới là kỳ”  

&

QUẺ 125:

Cư hạ bất thân thượng, nhân tâm dị tán ly,

Sự cơ chung thất nhất, phàm bách tận thành hôi.

  居 下 不 親 上 。人 心 易 散 離 。

事 機 終 失 一。凡 百 盡 成 灰。

Dịch nghĩa: Phận dưới không thông với kẻ trên,

Lòng người chia rẽ khá ưu phiền.

Công việc chung qui không hợp nhất

Tro bụi tan tành sự đảo điên.

Chú giải: Không một việc gì xảy ra mà không lý cớ, nếu không toại ý thì hãy tự vấn tâm mình: Vì sao? Tại sao? Do đâu? Hãy tự kiểm điểm mình trước đã: Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi. Bởi vì lúc nào cũng có Thượng-Đế ngự trong tâm và ai ai cũng tin chắc rằng làm lành có lành trả, làm ác có ác báo chẳng sai, bởi đó là hình ảnh của Thiên lương!

            Thiên lương là gì? Ở nơi nào? -Thiên lương ấy mới thiệt là Ta, nó đã do nơi khối Chí-linh của Trời mà sản xuất thì nó là con của Trời tức nhiên nó là Trời. Nếu do nó mà để tín-ngưỡng thì mình do Trời mà tín ngưỡng. Mình thờ nó tức là thờ Trời, ngoài nó ra chẳng ai biết Trời, ngoài Trời không ai biết nó.    Cái sự thông công giữa Thiên lương và Chí-Tôn là phép mầu đoạt Đạo. Vì cớ cho nên Đạo Cao-Đài thờ Thiên Nhãn nghĩa là thờ cái khối Thiên lương của toàn nhân loại. Ấy vậy Thiên lương mới

thiệt là ta, là chủ của sự Tín ngưỡng.

&

QUẺ 126:

Ngột ngột trần ai cửu đãi thì,

U song tịch tỉnh hữu thuỳ tri,

Nhược phùng thanh tử nhân tương dẫn,

Tài lợi công danh tự khả kỳ.

兀 兀 塵 埃 久 待 時 。幽 窗 寂 靜 有 誰 知

若 逢 青 紫 人 相 引 。財 利 公 名 自可 期

Dịch nghĩa:  Thời gian gió bụi gắng chờ,

Dù cho tri kỷ thờ ơ lạnh lùng

May ra gặp kẻ anh hùng

Lợi tài danh chức mất công phải cầu?

Chú giải: Sự kiên nhẫn là bước đầu của thành công. Từ đó bao nhiêu điều thấy biết phải do tâm linh mình nhận xét cho chính chắn thì sẽ không có điều ân hận. Thấy bằng tâm linh tức là phải dùng huệ nhãn, Thần nhãn, Thánh nhãn…Vì chưa đủ sự thấy biết ấy, nên ngày nay Đức Thượng Đế đến với nhân loại bằng Thiên nhãn để tạo nên niềm tin tuyệt đối cho mọi người cùng thấy rõ việc đời.

Ngày 6 tháng giêng Đinh Hợi (dl 27-01-1947) khi Đức Hộ-Pháp trấn thần Thiên nhãn ở mặt tiền Đền-Thánh tức là Phi-Tưởng-Đài, Đức Hộ-Pháp rải Cam-lồ-Thủy và cầm bó hương làm phép  trấn Thần với ý-nghĩa rằng:

           “Kể từ đây Đức Chí-Tôn hằng để mắt dìu dắt con cái của Ngài về chầu Ngài sau khi làm tròn nhiệm vụ Thiêng liêng của Ngài phú thác”     

&

QUẺ 127:

Hổ phục tại lộ đồ, hành nhân mạc loạn hô.

Lộ bàng tu tử tế, tai hoạ tự nhiên vô.

虎 伏 在 路 途。 行 人 莫 亂 呼。

路 旁 須 仔 細 。災 禍 自 然 無。

Dịch nghĩa:   Hùm oai ẩn nấp bên đường,

Lữ hành chớ hoảng mà thường hô to.

Thận gìn ý tứ vững cho,

Hoạ tai tiêu tán không lo sợ gì.

Chú giải: Hổ dữ là bản tính của loài thú ấy, nhưng chưa  qua trí khôn của loài người. Nó có nanh vuốt để vồ mồi. Người có sức mạnh tinh thần nên chế ra vũ khí để sát phạt. Người đạo đức dùng thần lực để hàng phục chúng, nanh vuốt là đạo đức. Lòng tin của người vô cùng mạnh mẽ:

            “Hễ có kiến thì có thức, kiến thức là căn bản của trí thức tinh thần. Muốn kiến thì nhờ NHÃN, muốn thức thì nhờ TRÍ. Ấy vậy, trong tâm (gọi là linh tâm hay chơn linh) là Thiên Nhãn của trí thức con người. Vì cớ mà Đại-Từ Phụ dạy thờ Thiên Nhãn. Thiên Nhãn là hình trạng của Lương tâm toàn thể, làm nền móng cho CAO-ĐÀI, nghĩa là Đền thờ cao trọng hay là Đức tin lớn của Đức Chí-Tôn tại thế này, y như hai câu thi của Đức chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor-Hugo):

            “L`oeil mystique seul verra la Religion nouvelle.

           “La  grande foi git dans la conscience universelle”.

                    (Có Thiên Nhãn mới tường Chánh giáo.

                    Tín Cao-Đài do Đạo Lương-tâm)           

Thờ Thiên Nhãn là thờ tánh mạng mình và Chí Tôn. Nghĩa là thờ Lương tâm của toàn thiên hạ  (La culte de la conscience)  (ĐHP: DiỄn văn 15-8 Quí-Dậu)

&

 

QUẺ 128:

Hoà bất hoà đồng bất đồng. Phiên vân phú vũ, kỷ thành không. Tấn thoái tu phòng chung thiểu công.

和 不 和 同 不 同 。翻雲 賦 雨 几 成 空。

進 退 須 防 終 少 功。

Dịch nghĩa:  Hoà đồng hai chữ vẫn hoàn không

Mây tụ gió mưa tới chập chồng

Tiến thoái đề phòng cho cẩn mật

Thành công chậm đến với niềm mong.

Chú giải: Người xưa nói “quân tử hòa nhi bất đồng, tiều nhân đồng nhi bất hòa” có nghĩa rằng là bậc quân tử thì luôn hòa hảo, hòa hiếu với mọi người cho trong êm ngoài ấm, còn kẻ có lòng dạ tiểu nhân thì làm giống (đồng) như mọi người là thái độ nịnh bợ để được lòng mọi người mà không biết hòa thuận với ai cả. Như vậy là còn kém lắm.

 Như con người, Thượng-Đế ban cho ba thể xác thân:

- Xác thân hữu hình đây là TINH cần:

           “Phải uống ăn nuôi sống thây phàm,

“Từ bi Ngũ cốc đã ban.

“Dưỡng nuôi con trẻ chu toàn mảnh thân”

            - Chơn thần tức nhiên thể Trí, có học mới hay, mới tài giỏi, đó là KHÍ, do Đức Phật-Mẫu ban cho.

            - Chơn linh là linh hồn, tức là điểm linh quang của Đức Chí-Tôn ban cho. Món ăn của linh hồn là đạo-đức, sự cúng kiếng đến chùa chiền là buổi cho linh hồn ăn vậy, đó là THẦN. Thế nên món ăn của linh hồn cũng cần yếu lắm. Sở dĩ thế giới ngày nay đi đến cảnh tương tàn tương diệt là vì họ đang đói, đói cái món ăn tinh thần, đạo đức, là món ăn chính của linh hồn đó vậy. May cho dân tộc Việt-Nam này Đức Chí-Tôn đem ban phát cho hột giống Tình thương, Bác-ái, Công bình để sẵn-sàng cứu đói, cứu nguy cho nhân loại đang cơn đói lã của tâm hồn. Ấy vậy, trách nhiệm của Việt-Nam hay là sứ mạng của Cao-Đài-giáo nói chung là phải đem hoàn linh đơn này đưa đến tận tay các Bạn đồng sanh của chúng ta để mọi người cùng uống, cùng nhìn Đấng Thượng-Đế là Cha chung của nhân loại, cùng rao lên rằng Thượng-Đế đang “Xây cơ chuyển thế bảo tồn Vạn linh” đó vậy.  Trách nhiệm của chúng ta đó !

&

QUẺ 129:

Đông biên sự, Tây biên thành.

Phong vật nguyệt hoa minh, cao lâu lộng địch thanh.

東 邊 事 西 邊 成 。風 物 月 花 明 。

高 樓 弄 笛 聲。

Giải nghĩa:   Sự thành hai nẻo Đông Tây,

Trăng hoa phong vật phô bày vẻ trong

Lầu cao ngắm cảnh thong dong,

Vẳng nghe tiếng sáo cõi lòng thanh cao.

Chú giải:  Sự việc khởi ở Đông mà thành ở Tây, đông tây là hai hướng đối nhau: một bên mặt trời mọc, một bên mặt trời lặn. Nếu không có mọc thì làm sao có lặn, đó là chuyện đương nhiên, nhưng ít ai để ý. Cũng như công việc nhà: người hái ra tiền là việc chính của người đàn ông mà người bảo quản của cải ấy là người vợ. Hẳn là một việc phân nhiệm rõ ràng. Vì quên đi phần hành mỗi cá nhân có vai trò đặc biệt mà xưa kia Nữ phái chịu thiệt thòi, ngày nay Đức Thượng đế đến ban cho sự công bằng ấy. Mỗi người phải làm nhiệm vụ và hưởng công bằng, bình quyền, bình đẳng như nhau, trong buổi Thượng nguơn Tứ chuyển này.Thầy có dạy:“Đường thị, Thầy giao phe Nữ cho con lập thành, chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm chiều trả cháo hoài. Phần các con truyền Đạo kỳ Phổ-Độ này cũng lắm nặng nề, bao nhiêu Nam tức cũng bao nhiêu nữ; Nam biết thành Tiên Phật chớ Nữ lại không sao?            Thầy đã nói: Bạch-Ngọc-Kinh có cả Nam và Nữ, mà phần nhiều Nữ lấn quyền thế hơn Nam nhiều!       Vậy con phải tuân lịnh Thầy mà lập Nữ phái. Nghe và tuân!                            Thầy hằng ở với con, con chớ ngại. H…Thầy giao Nữ phái cho con rộng quyền dạy-dỗ, làm Chủ, chờ Thầy thâu đến mà giao cho con, trách nhiệm con Thầy sẽ chia với”.

&

QUẺ 130:

Sự đoàn viên, vật châu tuyền,

nhứt lai nhứt vãng, bình bộ thanh thiên.

事 團 園 物 周 旋。 一 來 一 往 平 步 青 天。

Dịch nghĩa:  Chu toàn mọi việc đến đoàn viên

Lại lại qua qua, chớ nản phiền

Lặng bước đi lần về đến đích,

Trời xanh rộng lối cảnh thần tiên.

Chú giải: Một việc thành công như vậy đó là điều ước vọng, không còn chi hơn. Nhưng được ngoài phải được cả trong, tức là lòng mình phải thanh thản, thoải mái. Thế tình chưa như vậy đâu. Hãy nghe những lời Thầy than:

“Đạo phát trễ một ngày thì hại cho nhơn sanh nên Thầy nôn nóng mà Thiên cơ phải vậy”

Thi văn dạy Đạo

Trên vai gánh nặng cả Càn Khôn,

Khôn khéo rủ nhau xuống một phồn

Phồn tục theo hoài quên trở gót

Gót son biết đặng mất hay còn.

&

QUẺ 131:

Thiển thuỷ khởi phong ba, bình địa sinh kinh cức. Ngôn ngữ lự sâm thương, do khủng vô đoan đích.

淺 水 起 風 波 。平 地 生 荊 棘。

 言 語 慮 參 商 。猶 恐 無 端 的。

Dịch nghĩa:               Nước cạn nổi ba đào,

Đất bằng gai gốc cao.

Lời nói e điều ngại

Đuôi, đầu chưa rõ hai.

Chú giải: Sự tình trước mắt chưa ổn mấy. Sóng gió nhiều như vậy thì những toan tính nên chậm lại mà làm bài toán đời cho kỹ hơn. Thận trọng vẫn là điều hay để có dịp nghiệm kỹ, tính đúng. Đừng vội vàng là điều phải xét lại. Thầy có dạy:“Tất cả đều để trước mắt một bài học hay, cái cảnh khổ chính là bài học tấn hóa nhanh chóng nhất. Vì vậy những chơn linh nào dám chịu khổ là những chơn linh ấy tấn hóa mau hơn hết. Nhưng thật sự cũng chẳng phải “Khổ” đâu ! Ấy cũng chỉ là những bài học tắt cho những người muốn đi tắt. Cùng một không gian, cùng một cấp bực thì trông thấy hiểu thấu nhau. Bậc cao hơn thì trông thấy được bậc thấp, chớ bậc thấp thì khó thấy bậc cao hơn là lẽ thường”.

&

QUẺ 132:

Thu nguyệt vân khai hậu, huân phong vũ quá thì,   Nhược phùng Sở quốc cựu tri kỷ.

Đẳng nhàn nhứt tiến bất tu nghi.

秋 月 雲 開 後 。熏 風 雨 過 時。

 若 逢 楚 國 舊 知 己。 等 閒 一 薦 不 須 疑。

Dịch nghĩa:   Mây nhường vẻ sáng trăng thu

Mưa theo gió tạnh hết u-ám rồi

Tri âm may gặp được người,

Công danh theo đến kịp thời ước mơ.

Chú giải: bài học đời cho ta nhiều kinh nghiệm: trăng thu sáng đẹp, gió mát trăng trong, gặp thêm tri kỷ trong đời còn gì hay bằng. Nhưng phải cần học thêm túi khôn của loài người để làm sở trường của mình hầu phụng sự tốt

Phép học ấy tức là đi thẳng ngang qua đường  kính của hình tròn chớ không phải đi quanh quẩn theo vòng chu-vi. Nhưng nếu chỉ đi tắt thì chỉ biết phớt qua chớ  không thật thấu hiểu. Vì vậy mà dù cho những chơn linh cao trọng cũng phải giáng thế ở các địa cầu để học hỏi từng phần vi diệu mới mong đoạt lý cao thâm. Bài học của họ nhanh chóng hơn những chơn linh thường nên cũng mắc mỏ hơn nhiều. Phải dùng tự lực mới chống đối những lực lượng có sẵn của thiên-nhiên, có thoát đi được mới tiến lên được. Nếu không thoát nỗi thì phải cuốn theo dòng của dinh, hư, tiêu, trưởng. Đó, luật luân hồi quả báo và phương tu  đoạt Đạo là vậy, chẳng phải chỉ có quả địa cầu này có người ở mà thôi, mà đã có hằng hà quả Địa cầu có người ở theo những trình độ tiến hóa khác nhau.”

&

QUẺ 133:

Tâm dĩ định, sự hà ưu, kim lân dĩ thượng câu,

Công danh nhứt võng thâu.

心 已 定 事 何 憂 。金 鱗 已 上 鉤 。

功 名 一 網 收。

Dịch nghĩa:   Yên tâm việc có lo gì

Cá vàng mắc nhợ còn chi phải ngờ

Công danh nào phải ước mơ,

Lưới quanh bao sẵn, đợi chờ người thu.

Chú giải: Công danh đến trong tay như cá mắc câu rồi. Sự thành đạt ấy cũng làm cho lòng mình thỏa dạ. Nhưng nên nhớ con cá mắc lưỡi câu thì đời nó sẽ làm mồi cho bữa ăn ngon.Con người mắc lưỡi câu danh vọng liệu có vượt qua? 

Đời là biển khổ, nhưng may gặp được nguơn hội CAO ĐÀI do Đấng Thượng-Đế đến để dìu-dẫn tức là tạo Bát Nhã-Thuyền để vớt người qua khổ hải. Bởi người đến thế giới này để làm các công việc như:

 - Hoặc trả quả kiếp.

            - Hoặc học hỏi để tấn hóa.

            - Hoặc đến cứu đời, làm Thiên mạng.

               Dù  muốn dù không phải qua năm bước khổ:

“Cái chương trình ấy là những cơ chỉ sanh ra bởi các tư tưởng của cả Tôn giáo đã lập thành nên Đạo. Chữ Đạo là đường đặt ra bởi đó, đặng dìu-dắt nhơn sanh khỏi bước đời gay trở; cốt yếu là lập mục đích,  định chuẩn thằng cho kẻ trước hiệp người sau, kẻ kim hòa người cổ, tóm cả trí lự của nhơn loại, đặng làm ngọn Huệ-quang soi rọi khắp nhơn gian, mượn cả sự tội tình sầu thảm của thế, mà tạo Bát-nhã-thuyền  đặng vớt người nơi khổ hải.”

&

QUẺ 134:

Ý mê chí bất mê, Sự khoan tâm bất khoan

Yếu tri đoan đích tính, do cách lưỡng trùng san.

意 迷 志 不 迷 。事 寬 心 不 寬 。

要 知 端 的 信 。猶 隔 兩 重 山。

Dịch nghĩa:   Ý dù mê mẩn chí không lầm

Việc đã thông rồi tâm chữa an

Phải khéo nghĩ suy cho rõ lý

Núi non cách trở chớ nghi nan.

Chú giải: ý là sự suy đoán, là âm vang của tư tưởng, là tiếng lòng vọng lại có thể mê. Nhưng chí là cái tâm của kẻ sĩ (gồm có chữ sĩ trên, tâm dưới hiệp lại) không mê. Nhờ vậy mới phán đoán công việc không lầm. Nhờ không lầm mới thấy rõ con người ai cũng qua 5 bước khổ:

PHẬT vì thương đời mà tìm cơ Giải KHỔ

            TIÊN  vì thương đời mà bày cơ Thoát KHỔ

           THÁNH  vì thương đời mà dạy cơ Thọ  KHỔ

THẦN vì thương đời mà lập cơ Thắng KHỔ

HIỀN vì thương đời mà đặt cơ Tùng KHỔ

Chữ KHỔ là đề mục của khoa học trường đời, phẩm vị Hiền Thần Thánh Tiên Phật là ngôi vị của trang đắc cử.”  Thi văn dạy Đạo:

Khổ Đời muốn  lánh gắng tìm phương,

Giành giựt đừng mong chác thế thường

Xao-xự tuồng đời lừng bợn tục.

Trau-tria nét Đạo nực mùi hương.

Rừng Thiền ngàn dặm Trời soi thấu.

Biển khổ muôn chia khách lạc đường.

Gặp được nẻo ngay Đời có mấy,

Thìn lòng khối ngọc tạo nên gương.

&

QUẺ 135:

Tiếu trung sinh bất túc, nội ngoại kiến sầu khốc.Vân tán nguyệt quang huy, chuyển hoạ đương thành phúc.

笑 中 生 不 足 。內 外 見 愁 哭。

雲 散 月 光 輝 。轉 禍 當 成 福。

Dịch nghĩa:   Nụ cười chưa vẹn niềm vui

Tâm tư, nét mặt ngậm ngùi cả hai

Mây qua, trăng nở gương đài,

Phúc lành kịp đến thế thay hoạ nàn.

Chú giải: Chuyện thế nhân: buồn vui, họa phúc là sự thường, vì con người đang sống trong thế giới nhị nguyên mà ! Nhưng nếu biết chuyển tâm tư mình đúng theo đạo đức vì đó là kim chỉ nam của cuộc đời, như người thủy thủ

Nếu nhìn thẳng vào chữ Nhơn có hai nét do Âm Dương hòa hợp; nét trái là chân Dương, nét phải là chân Âm. Đây là chỉ phần Âm Dương của cha mẹ sanh ra cái phàm thể này. Rồi cha mẹ phàm thể lại do Âm Dương của trời đất sanh ra, cho nên  chữ nhân lại hợp với chữ Nhị   thành chữ THIÊN . Trong chữ Nhị tức là nét nhất trên chỉ Trời, nét nhất dưới chỉ đất, gọi là Tam tài: Thiên- Địa- Nhân thì người đứng giữa mới thích hợp. Như vậy chỉ

có người mới được dự vào việc của trời đất mà thôi. Người là một sản phẩm hoàn chỉnh nhất của Thượng-Đế nên phải biết: - Trên thông Thiên văn.

                       - Dưới đạt địa lý.

                       - Giữa quán nhân sự

&

QUẺ 136:

Diêm tiền thước táo chính phiên phiên,

Ưu lự toàn tiêu hỉ tự nhiên,

Nhứt nhân tấn liễu nhứt nhân thoái,

Hạ sao hoàn hữu hảo nhân duyên.

簷 前 鵲 噪 正 翻 翻 。憂 慮 全 消 喜 自 然

 一 人 進 了 一 人 退 。下 梢 還 有 好 姻 緣

Dịch nghĩa:  Trước thềm chim đã hót vang,

Tan niềm lo lắng hân hoan thay vào.

Lại qua hai kẻ thay nhau,

Hẳn là duyên đẹp ngày sau hưởng phần.

Chú giải: cầu tài vận tốt, cầu hôn được duyên đẹp xứng đôi, nhưng phải nhớ nhân duyên do trời định trước số phần. Việc hành sử muốn được đôi phần vẹn vẻ phải biết khéo khôn hòa hợp, tức là phải biết cư xử với nhau, đừng tất cả đổ cho trời khi mình chưa biết đối nhân xử thế, chưa biết lấy chữ hòa mà ở ăn cho thuận. Phải biết rõ điều này:

               “Con người là một động vật ở nơi mặt địa cầu này. Chúng ta ngó thấy hiện hữu phải vận hành, phải xao động, bởi nó là động vật nó phải hoạt động, nếu không hoạt động là chết. Trong cơn hoạt động nó có hai phần đặc biệt:

               1- Hoạt động về thi hài xác thịt, tức nhiên như thân thể chúng ta bây giờ đây, mỗi ngày chúng ta hoạt động mới có sống, bằng không hoạt động thì chết, luật tạo đoan quả nhiên vậy.

            2- Còn hoạt động nữa, là hoạt động vô hình, chúng ta không thể thấy được mà chúng ta quả quyết có hoạt động về tinh thần, trí thức. Vì cớ hai cái hoạt động của con người chia ra hai phần:

                        - Hoạt động về phần Đời.

                        - Hoạt động về phần Đạo.

&

QUẺ 137:

Kinh cức sinh bình địa, phong ba khởi tứ phương .

 Ỷ lan trù trướng vọng, vô ngữ đối tà dương.

荊 棘 生 平 地 。 風菠 起 四 方。

倚 闌 惆 悵 望 。無 語 對 斜 陽。

Giải nghĩa:   Đất bằng sinh lắm gai chông

Phong ba nổi dậy khắp trong bốn bề

Tựa hiên buồn bã nhìn xa,

Chiều hôm đối cảnh khó mà nói năng.

Chú giải: Thời cùng cuối của một nguơn hội gọi là Hạ nguơn mạt pháp, giống như nước cuối dòng, cho nên bao rác-rưởi tồn đọng lại, đủ thứ hết, nhưng nên thấy rõ: thứ trược quá nhiều mà vật thanh lại ít. Từ gia đình loáng ra ngoài thế giới đâu đâu cũng thế. Đừng trách, đừng phiền. Hãy nhìn lại chính mình xem: bản thân mình có toàn chưa? Chưa toàn hãy sống cho toàn. Mình có đủ hiếu với cha mẹ chưa? Hãy làm tròn chữ hiếu. Từ đó mới làm gương tốt cho con cái trong gia đình. Làm gương tốt cho ngoài xã hội được. Thánh-ngôn rằng:

Dạy  trẻ  con  toan  trước  dạy mình.

Cái công giáo- hóa cũng  đồng sanh.

Đạo đời  tua  biết Đời  rằng  trọng,

Một điểm quang- minh một điểm linh

           Thầy dạy:Sắp nhỏ của con daỵ, sau cũng nên người ở đời. Ấy là Đời, nếu biết trọng đời thì gắng dạy nó nên hiền.  Một điểm quang minh là một HỒN người, là vật tối linh của Thầy trân-trọng. Nếu con muốn làm lành thì gắng dạy mấy hồn âý nên Hiền(TN I /10)

&

QUẺ 138:

Mưu dĩ định, sự hà ưu ? Chiếu nguyệt thượng trùng lâu, vân trung khách điểm đầu.

謀 已 定 事 何 憂。照 月 上 重 樓 。雲 中 客 點 頭

Dịch nghĩa:   Mưu mô đã tính sẵn rồi,

Việc không lo ngại lần hồi rõ thông.

Lầu cao trăng giải mênh mông,

Trong mây dường có lão ông vái chào.

Chú giải:  Thường ngữ cũng nói rằng: mưu tính là việc của người mà thành sự là ở trời. Việc này đúng không? Do câu “Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Nếu mình làm người vẹn vẻ, ý nghĩ thanh cao thì lo gì không được toại? Chắc chắn sẽ có quới nhân giúp sức. Hãy vững niềm tin !

Nên biết: Vì cái thi hài phàm tục này nó là con vật, nó phải hoạt động theo con vật, hoạt động theo giác thể của nó, nó chưa biết hoạt động theo chơn linh. Thượng Đế vẫn còn sắp đặt một kỷ cương để cho tinh thần nó vi chủ hình hài của nó, nếu để cho thân thể vi chủ tâm hồn của nó, nó sẽ ngây cuồng ngu dại, nó sẽ đi đến chỗ tự diệt nó mà thôi. Bởi vậy chúng ta ngó thấy hai phần đặc biệt ấy, chúng ta buộc phải nhìn về phần đời của chúng ta, chúng ta phải chung sống cùng xã hội nhân quần, tức nhiên sống theo khuôn khổ quốc gia, dân tộc ấy, nên luật khuôn khổ quyết định hơn hết. Nếu trên cái sống ấy, sống theo kia chúng ta

thấy chúng ta phải nhìn có một Đấng cầm quyền trị về phần tâm hồn, trí não chúng ta. Đấng ấy giờ phút này đến ở cùng chúng ta, nhìn chúng ta là con cái của Ngài” là Đức Thượng đế, là Trong mây dường có lão ông vái chào.

&

QUẺ 139:

Kỳ kỳ kỳ, địa lợi dữ thiên thì, đăng hoa truyền tín hậu, động tĩnh tổng tương nghi.

         奇 奇 奇 。地 利與 天 時 。

燈 花 傳 信 後 。 動 靜 總 相 宜

Dịch nghĩa:  Lạ lùng thay lắm nỗi sự tình!

Thiên thời, địa lợi khá nên tin

Đèn hoa, tin tức sau lần đến,

Động tĩnh hai đường sự lý minh.

Chú giải: Việc muốn thành công tất phải đủ ba yếu tố: thiên thời (tức nhiên là thuận lòng trời). Địa lợi (thế đất có hợp không, tức là có đủ điều kiện làm chủ miếng đất không). Ba là nhân hòa (những người chung quanh sống có thích hợp nhau không: nói chung là mình phải hòa với mọi người, ngược lại người có thích mình mới được).

               Xưa nay chúng ta không đạt được ba điều ấy:

 - Nhứt là không có thời Trời, tức là trong nước không có đạo, mà tổ tiên ta xin đạo, mượn đạo của người thôi.

-Thứ nhì địa không lợi là vì nước Việt Nam bị nô lệ nhiều.

-Thứ ba nhân tâm chưa hòa, vì dân tộc còn bị trị.  

               Nay, Đức Thượng Đế “Ngài đến với một danh từ là Thầy của chúng ta, mà chẳng phải làm Thầy mà thôi, còn làm Cha nữa. Chúng ta tưởng tượng lại, để tinh thần bình tĩnh suy xét từ thử đến giờ, coi các sắc dân nào trên mặt địa cầu này đặng hạnh phúc dường ấy chăng?           Hai ngàn năm về trước, Đức Khổng-Phu-Tử đến tạo Đạo, không đoạt được đức quí báu cao trọng ấy cũng do nơi duyên cớ, chúng ta tưởng Ngài đến tình cờ, không có gì là tình cờ trên mặt địa cầu này hết, không phải tình cờ mà Ngài đến. Ngài đến trong đời Chiến Quốc, tức nhiên trong buổi ly loạn (không có buổi nào trên mặt địa cầu này chịu ly loạn bằng nước Trung-Hoa buổi nọ).

&

QUẺ 140:

Ngộ bất ngộ, phùng bất phùng, nguyệt thâm hải để, nhân tại mộng trung.

遇 不 遇 逢 不 逢 。月 深 海 底 。人 在 夢 中

Dịch nghĩa:  Gặp gỡ không dễ thường

Tương phùng khó nỗi đương

Trăng chìm sâu đáy bể

Người trong giấc hoàng lương.

Chú giải: nếu đã nói là mộng tức chưa thực, chưa thực thì không thể giải quyết được bất cứ một sự gì được như ý muốn. Trăng còn chìm trong nước, những mơ màng. Hãy nên chỉnh đốn lại tâm mình. Nhiều lo lắng nhưng tình thế chưa được thuận tiện, mọi người còn toan tính cho riêng mình bảo sao không lẩn quẩn, như  cuồn chỉ rối. Khác nào:

Đời Chiến Quốc, (Đức Khổng Tử) Ngài đến trong buổi ly loạn, thiên hạ đương chiến đấu với nhau, giành phương sống của mình, lấn quyền thế trong lục quốc phân tranh, không ai nhường ai, tranh sống với nhau một cách kịch liệt, Ngài mới đến. Ấy vậy Ngài đến không phải tình cờ, nếu chúng ta tưởng tình cờ thì Đấng cầm cân Thiêng liêng nơi cõi Hư linh Hằng sống chẳng có hay sao? Bằng cớ hiển nhiên là Chúa Jésus Christ cũng đến lập Đạo của Đức Chí-Tôn như  Ngài  vậy”.

&

QUẺ 141:

Ám trung phòng tích lịch, sai lự hồn vô thực.

Chuyển nhãn hắc vân thu, ưng xuất phù tang nhựt.

暗 中 防 霹 靂 。猜 慮 渾 無 實。

轉 眼 黑 雲 收。擁 出 扶 桑 日。

Dịch nghĩa:  Ảm đạm nên phòng sấm sét vang

Đoán nhầm sự thực hẳn xa đàng

Phút chốc mây đen dần tiêu tán

Trời hồng lố dạng sắc phong quang.

Chú giải: Trước xấu sau tốt ấy là điềm tiền hung hậu kiết. Người sống trong thế giới nhị nguyên này cứ lẩn quẩn, tâm không yên, nhiều nghi ngại,lắm lo toan, bối rối.Ai gỡ?

Quẻ này hẳn giống như thời mà nhân loại “Trong buổi loạn ly, buổi mà La-mã làm bá chủ, các sắc dân bị chinh phục quật cường, chiến đấu để giải ách nô lệ của mình, buổi ấy cũng là Chiến quốc vậy. Hai Người: một là Đức Phật Thích Ca; hai là Đức Chúa Jésus đến, không phải tình cờ mà đến đâu. Cũng một thuyết với nhau, đem Đạo lý cứu vãn nhân loại, mỗi phen nhân loại chịu thống khổ về tâm não dường nào thì có Đấng Từ bi độ  tận, đưa tay ra cứu vớt họ luôn luôn đặng mà cứu khổ nhân loại, mãi mãi không bao giờ sơ sót hết, chúng ta quan sát tận tường thời buổi nào các vị Giáo-chủ đến giáo Đạo đều có lý hết.”

&

QUẺ 142:

Lợi tại trung bang xuất chiến chinh, nhứt phiên hộ xú tại vương đình, phụng hàm đan chiếu qui dương bạn, đắc hưởng giai danh tứ hải vinh.

利 在 中 邦 出 戰 征。 一 番 護 醜 在 王 庭。

鳳 啣 丹 詔 歸 陽 畔。 得 享 佳 名 四 海 榮。

Dịch nghĩa:  Lợi cầu trong nước chiến chinh,

Một phen gặp lúc triều đình không may

Phượng đang qui phục ngọc đài

Tuổi tên bốn biển truyền ngay danh hiền.

Chú giải: Câu nước loạn không vào, nước nguy không đến “Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư” vẫn đúng muôn đời. Nhưng đối với bậc nhân tài mà kẻ trên đương trọng dụng, biết người biết mình  trăm trận trăm thắng.

Có khác nào câu chuyện thời Vua Quang-Vũ muốn có được bậc kỳ-tài ở bên cạnh vua để bàn việc nước, người rất nễ phục vị quan thanh liêm như Tống-Hoằng.

           Hán-Quang-Vũ có người chị là Hồ-Dương Công chúa đã goá chồng và đem lòng thương-yêu Tống-Hoằng, nhưng Tống-Hoằng một mực từ-chối vì ông đã có vợ nhà rồi. Vợ của Tống-Hoằng bị mù loà, sau giờ làm việc ở cửa quan về chính tay Tống-Hoằng đút cơm cho vợ: Dù vậy  mà Tống-Hoằng vẫn một lòng chung-thủy.Truyện Nữ trung Tùng phận, Bà Đoàn rất khen ngợi  nghĩa-cử ấy:

Tống-Hoằng chí trượng-phu không đổi,

           Giữ nhơn-luân sợ lỗi Đạo hằng.

           Từ-Duyên công-chúa giao thân,

           Đút cơm vợ quáng ân-cần dưỡng nuôi”

                                                          (Câu 569- 572)

&

QUẺ 143:

Kham thán ngoại biên ưu, cánh ta môn lý náo,

Ý tự cánh khiên tiền, tâm thần diệc điên đảo.

堪 歎 外 邊 憂 。更 嗟 門 裏 鬧 。

意 緒 更 牽 纏 。心 神 亦 顛 倒。

Dịch nghĩa:  Vẻ ngoài lộ nét u buồn,

Bên trong nhiều việc bôn chôn não lòng.

Tâm tư bối rối không thông,

Đảo điên ý chí, cõi lòng ngại lo.

Chú giải:  Tâm không yên định thì khó tính chuyện gì cho thông. Hãy bình tĩnh mà suy nghĩ kỹ càng hơn, đừng vội. Dục tốc bất đạt mà ! Tất cả phải thành thật thì chuyện thật sẽ đến với mình. Đừng dối đừng gian, phải thuận lòng trời      

Truyện tích Tống-Hoằng từ chối sự hợp duyên với Công chúa, Tống-Hoằng có nói rằng: “Tao-khang chi thê bất khả

hạ đường, Bần tiện chi giao mạc khả vong”. Do vậy mà ông giữ được lòng đạo-đức “giàu không đổi bạn, sang không đổi vợ” .Trong cách dạy con trai “Vẹn Đạo nhân luân”  Bà Đoàn tiếp:

 Biết tình-nghĩa, biết mùi ân-ái,

 Chia đau thương cột dải đồng tâm,

Kìa ai đã gọi ân thâm

Hơn niềm chồng vợ âm-thầm giúp nhau.

Đừng đến lúc ốm đau chẳng ngó,

Hương sắc xinh lại bỏ hoa tàn

Những là anh én nhộn-nhàng,

Buôn duyên bán nợ như hàng chợ đông.

         (Nữ trung tùng phận. Câu 573-580)

&

QUẺ 144:

Nhứt trùng thuỷ nhứt trùng san, phong ba đạo thản nhiên, hồ trung biệt hữu thiên.

一 重 水 一 重 山 。風 波 道 坦 然。

壺 中 別 有 天。

Dịch nghĩa:   Núi sông lắm nỗi trập trùng

Đường dài thân bước mặc lòng sóng dâng.

Trong hồ biết có thiên công,

Lòng trời soi thấu tấm lòng người chân.

Chú giải: Đường núi trập trùng như việc nhiều bề bộn, nhưng ý chí con người không nại khó. Vì mang sẵn một niềm tin trọn vẹn, chắc chắn tấm chân thành này cũng được quyền thiêng liêng trợ giúp. Nhất định thành công !

Làm người chung qui cũng một kiếp sanh  đến với thế-giới nghiệt-oan này rồi “thân cát bụi cũng trở về cát bụi” mà thôi ! Ý tứ quẻ này được diễn  trong bài thơ sau:

Đường về chớ nệ bước non sông,

Lần đến tìm nơi cảnh bá tòng.

Bụng trống thảnh-thơi con hạc nội,

                        Lúa đầy túng thiếu phận gà lồng.

                         Cô phần ngoảnh lại đà bao tuổi.

 Sô diện xem qua khỏi mấy dòng.

 Một điểm quanh co lên một nấc.

 Lần-lừa ngày tháng ắt qua đông.

&

QUẺ 145:

Ngộ hiểm bất tu ưu, phong ba hà túc kỵ, nhược ngộ thảo đầu nhân, chỉ xích thanh vân lộ.

遇 險 不 須 憂 。風 波 何 足 忌 。

若 遇 草 頭 人。咫 尺 青 雲 路。

Dịch nghĩa:   Khó khăn dù gặp không phiền,

            Gió dồn sóng bũa chẳng kiêng kỵ gì.

            May ra gặp được cố tri,

Đường mây thẳng tới tức thì vang danh.

Chú giải:  Đã làm người phải có niềm tin trong cuộc sống,

Tự nguyện với lòng rằng: khó khăn không nản, nguy hiểm

không sờn thắng không kiêu,bại không than, nhất định vậy      

Là bậc Thiên-mạng như Đức Hộ-Pháp thật xứng làm thân con hạc nội, Ngài thường ví mình như thế; sau lần Ngài bị lưu-đày sang Hải-đảo Madagascar trở về, Ngài nói chuyện với Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài về tâm-huyết của Ngài:       “Các Bạn ôi! chúng ta chỉ có hy-sinh một kiếp sống đặng làm con hạc vô tội, con hạc Hòa-bình, biết đâu Đức Chí Tôn cũng cho hạc của Ngài để thế cho con bồ câu trắng mà thiên hạ gọi là con bồ câu hòa-bình, nhưng không hòa bình gì hết. Thân làm con Hạc thiêng-liêng ấy buộc ta phải chở Đạo đi  toàn  khắp mặt địa-cầu này. Nếu một chủng-tộc nào, một sắc dân nào ở nơi mặt địa-cầu này chưa biết Đạo thì  cái lỗi do nơi ta đó vậy.” 

&

QUẺ 146:

Thuyền trạo trung lưu cấp, hoa khai xuân nhân phùng, Sự ninh tâm bất tĩnh, nặc khởi hứa đa nghi.

船 棹 中 流 急 。花 開 春 人 逢 。

事 寧 心 不 靜。 惹 起 許 多 疑。

Dịch nghĩa:  Giữa dòng nước gấp thuyền qua,

Hoa xuân hé nhuỵ người đà hội ngay.

Việc yên lòng những ai hoài,

Mọi đường toan tính những hay ngại ngùng.

Chú giải: Nếu đã nói đường đời thì không bao giờ êm như nhung lụa trải, nhưng nếu đường nhung lụa thì không phải đường đời. Nên nhớ chiến thắng không gian khổ thành công không vinh quang. Đã là đời thì bước chân người chiến sĩ phải trải lên sự dối, sự dời, sự đổi của tâm lý người đời. Một đấng Giáo chủ cầm đầu chơn mạng của bao triệu sinh linh mà Người còn dõng dạc nói rằng:

“Ấy vậy, cái phận-sự của ta tuy khổ-não cực-nhọc mà Bần-Đạo vẫn chưa thỏa-mãn về tinh-thần, sự cứu khổ an ủi thiên-hạ đương nhiên bây giờ các Bạn đã thấy: nhơn loại đau khổ một cách quá-quắt không thể tả đặng.

             -   Đau khổ về xác thân,

             -   Đau khổ về tinh-thần.

           Các Bạn đã nhớ Đức Chí-Tôn giao cơ cứu-khổ ấy thì cần phải tìm phương giải-khổ cho nhơn-loại. Thoảng như buổi ban sơ Bần-Đạo không có lãnh trách-vụ đặc biệt của Đạo thì các Bạn chắc cũng không để tâm cho lắm.

Đến hôm nay dầu cho thân già này không còn năng-lực hoạt-động chịu cả khổ cực như trước nhưng cũng cố gắng, thì Bần-Đạo thấy hiển-nhiên rằng: Trong Cửu nhị ức nguyên-nhân họ không phải ở trong nước Việt-Nam mà thôi, ở khắp nơi trong các chủng-tộc đều có.”

&

QUẺ 147:

       Khả súc khả trừ, phiến ngọc thốn châu,

Đình đình ổn ổn, tiền ngộ lương đồ.

可 畜 可 儲 。片 玉 寸 珠 。

停 停 檃 檃。 前 遇 良 圖。

Dịch nghĩa:  Khá gìn từng mảnh ngọc châu

Trữ tàng kho báu về sau còn dùng

Sắp bày mọi việc thung dung

Sự tình trước mặt ấy cùng vẻ vang.

Chú giải: Một người biết quí ngọc ngà châu báu thì phải biết quí trọng mạng sống con người mà Đức Thượng đế đã nắn đúc nên hình. Ngài tạo ra con người, Ngài còn đem một nến Đạo chơn chánh để mớm vào lòng, hầu dẫn độ tất cả về nơi cao thượng hơn  chốn trần ai khốn đốn này.

“Tội nghiệp thay! Bóng Đạo vừa đi tới đâu, mặc dầu Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn chưa có làm phận-sự  mà cả tinh-thần lẫn hình-thể của họ đều sáng-suốt chói-lọi vậy. Họ trông bóng cờ cứu khổ của Đạo lắm ! Cố-gắng thêm các Bạn ! Vì trong Đạo-binh thiêng-liêng hộ-giá Đức Chí-Tôn từ khai thiên lập Đạo đến giờ, do theo Thánh giáo Đức Chí-Tôn có nói: Bần-Đạo là Ngự-Mã Thiên Quân, phẩm-tước, quyền-hành cao-trọng ấy phải thế nào ? (để dấu hỏi). Ta có thể đền đáp, có thể thay thế hình ảnh Đức Chí-Tôn đặng làm phận sự của Ngài hay không ? Hay một ngày kia trở về thiêng-liêng phải thẹn khi ngó mặt Ngài ?”

&

QUẺ 148:

Tiểu tử tảo xu đình, thanh vân cửu vấn trình,

Quí nhân lai trợ lực, Hoa tạ tử hoàn thành

小 子 早 趨 庭 。青 雲 久 問 程 。

貴 人 來 助 力 。花 謝 子 還 成。

Dịch nghĩa:  Con hiền thấu hiểu lời hay

Hai thân cách vắng lâu ngày hỏi han,

Quý nhân giúp sức trợ ân,

Hoa tươi rả cánh kết thành quả ngon.

Chú giải: làm người đứng trong trời đất phải biết trách nhậm của mình đối với gia đình đã là nặng, nhưng còn xã hội, tổ quốc, Tôn giáo nữa, không dễ dàng đâu. Hãy nghe qua lời của Đức Thương Phẩm giáng: 15-7-Giáp Tuất (dl: 24-8-1934): “Trách nhậm là trách nhậm, cá nhơn là thứ chi, phải biết nguồn cội là gốc, thì mới tránh khỏi thường tình đặng. Các Ðấng thiêng liêng đã thường nói: Lợi danh thường tình là nhỏ, danh giá Ðạo là trọng. Ðãi người một bực, bất kể tên gì, chịu thiệt thòi mà làm phận sự. Trễ nải của bước Ðạo thế nầy thì Thầy có khổ tâm khai Ðạo cho chúng ta độ rỗi sanh linh đâu. Sự trễ nải là sự phàm tâm của ta, Anh cũng cần nên đoạn khổ cho người, chớ nên tạo khổ cho ai. Ðường đời là bến sông mê, thoát mê thoát khổ được, ai lại còn mang đeo thằng phược vào mình mà để cho loạn tâm mệt trí về nơi đó, chẳng uổng kiếp sanh lắm ru ?”.

&

 

QUẺ 149:

Nhất tâm lưỡng sự, nhất sự lưỡng tâm,

Tân hoa khô thụ, chân đãi giao xuân.

一 心 兩 事 。一 事 兩 心  。

新 花 枯 樹 。真 待 交 春

Dịch nghĩa:  Một lòng hai việc khó toan,

Hai lòng một việc hãy còn nghĩ suy.

Cây khô hoa nở còn nghi

Sang xuân mới phát, tiết thì đổi thay.

Chú giải: Khi một người đã thấu rõ trách nhiệm làm người: Làm người khó! Làm người khó! “Vi nhơn nan, vi nhơn nan” mà! Nhưng người là đứng phẩm tối linh thì phải thực hiện cho được chữ “tối linh” ấy chứ. Nào phải cứ ngồi mát ăn bát vàng sao? Chúng ta có biết rằng ta đang vui trên sự hy sinh gian khổ của bao người khác không? Ta phải làm cho bằng được như cây khô cũng phải mọc chồi vậy. Phải thấy rõ sau thời gian năm năm hai tháng chịu lưu đày nơi Hải-đảo Madagascar trở về, Bát Nương Diêu Trì Cung đến mừng Đức-Hộ-Pháp bằng mấy vần thơ, để tỏ niềm hoài-cảm với “thân hạc nội” rằng:

 Đào-nguyên lại trổ trái hai lần.

                       Ai ngỡ Việt-Thường đã thấy lân.

                       Cung Đẩu-Vít xa gươm Xích-Quỉ,

                       Thiềm-cung  mở rộng cửa Hà-Ngân.

                       Xuân Thu định vững ngôi lương tể,

                       Phất-chủ quét tan lũ nịnh thần.

                       Thổi khí Vĩnh-sanh lau xã-tắc

                       Mở đường quốc thể định phong vân

                                       (Bát-Nương Diêu-Trì-Cung)

          Đức Hộ-Pháp đáp họa thơ của Bát-Nương, như sau:

Chông gai đường Đạo mãn dò lần,

                       Từ bước ta-bà trở cố lân.

                       Biển Thái  vừa  nghe hơi súng nổ

                       Gành Nam kế lóng tiếng chuông ngân.

                       Buồm thuyền tế-độ xao mơ-mộng

                       Gió hạc Chiêu-Tiên giục đảnh Thần,

                       Cam-lộ kìa ai dành để sẵn.

                       Cầm đương rửa sạch nét phù-vân

                                   (Phạm Hộ-Pháp)

&

QUẺ 150:

Đại sự khủng an đồ, tàn hoa bất tái tiên.

大事 恐 難 圖 。殘 花 不 再 鮮。

Dịch nghĩa:  Việc to khó nỗi muu đồ,

Thuyền cao sóng cả ưu lo sự thường

Hoa tàn đâu dễ ngát hương,

Lá vàng trước gió dễ thường bền lâu.

Chú giải: Việc lớn khó mong một mình toan tính, nhưng khi trời đã tính toan cho rồi thì dù việc lớn đến đâu cũng thành, cũng như hoa khô không còn hương sắc nhưng sắc hương đã tự có trong hoa khô đó. Hãy vững tin, vì người đến thế này không ngoài ba nhiệm vụ lớn: 1-là trả quả kiếp đã vay từ thử, không chạy chối đâu được, 2- là đến nơi này để học hỏi và tiến hóa cao hơn. 3- là làm thiên mạng. Tự nghĩ xem mình ở vào hạng nào rán mà làm tròn trách nhiệm đó để không uổng một kiếp sanh làm người. Chỉ với công chín tháng cưu mang của Mẹ trả suốt đời cũng không rồi, đừng nói chi nợ của xã hội, quốc gia, trời đất…

           Đứng về mặt tôn giáo, thì Đức Hộ-Pháp cho biết sự trọng-yếu của Hiệp Thiên Đài: nay “Đức Chí-Tôn mở Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ gọi là cơ-quan tận độ chúng-sanh, Đức Chí-Tôn sai Hộ Pháp giáng thế, tại sao Ngài không dùng Cơ-bút để truyền Bí-pháp cho con cái của Ngài, Ngài chỉ giáng bút truyền cho Hộ-Pháp mà thôi ? Vì cớ cho nên Bạn của Bần-Đạo nơi Hiệp-Thiên-Đài có người thắc-mắc về vụ đó, không có chi lạ; mở Cơ-quan tận-độ chúng-sanh tức nhiên là lập một khoa thi sang Tam chuyển tái-phục Thiêng-liêng-vị nơi cảnh vô hình, mỗi chuyển tức nhiên mỗi khoa-mục của các đẳng Chơn-hồn cần phải thi đặng đoạt vị:  thăng hay đoạ .  Bởi cớ cho nên Đức Chí-Tôn gọi là trường thi công quả là vậy. Đức Chí Tôn cho Hộ-Pháp và Thập-Nhị Thời Quân đến cốt yếu mở cửa Bí-pháp ấy cho vạn-linh đoạt vị.”

 

Tư vấn