Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 151 - Quẻ 180

QUẺ 151:

Mạc đạo sự vô ngộ, kỳ trung tấn thối đa,

quế luân viên hựu khuyết,quang thái cánh khai ma

莫 道 事 無 誤 。其 中 進 退 多 。

桂 輪 圓 又 缺。光 彩 更 揩 磨。

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, hoa, ngoài trời và thiên nhiên

Dịch nghĩa:   Việc vẫn sai lầm chớ tự an,

Trở xoay lắm nỗi khá lo toan

Trăng tròn rồi khuyết theo ngày tháng,

Gương sáng hằng lau vẻ vẹn toàn.

Chú giải:  Đường đời muôn lối, nẻo đến không hai. Người phải biết gì ? Thầy dạy: “Cơ lập Ðạo là nhiệm mầu vô giá, biết Ðạo, biết ta, biết người, biết thế, biết thời, biết dinh hư, biết tồn vong ưu liệt rồi mới có biết hổ mặt thẹn lòng, biết sự thế là trò chơi, biết tuồng đời là bể khổ, biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, biết nhục vinh mà day trở trên con đường tấn thối. Có đâu đường đời còn lắm giành xé, hại lẫn nhau, mong chi đặng tầm Tiên noi Phật”.

Cả thảy đều hiểu rằng Đức Chí-Tôn buổi mới sơ khai  chưa tạo thiên lập địa.  Ngài muốn cho vạn-linh đặng hiệp cùng nhứt-linh của quyền-năng sở-hữu của quyền-hạn thần linh. Ngài vừa khởi trong mình quyết định thi-hành điều ấy thì Ngài nắm cái Pháp. Trước Ngài chỉ là Pháp, vì cớ cho nên ta để Phật  tức-nhiên là Ngài, kế thứ nhì là Pháp. Hễ nắm Pháp rồi Ngài phán-đoán vạn-vật thành hình; Ngài muốn vạn-vật thành hình tức nhiên Tăng, cả vạn-vật đều đứng trong Tăng, âý vậy Pháp là chủ vạn-linh.”                                                                

&

QUẺ 152:

Mạc nan sự trì lưu, hưu ngôn bất đáo đầu.

Trường can chung nhân thủ,

Nhất điếu thượng kim câu.

莫 難 事 遲 留 。 休 言 不 到 頭。

長 竿 終 人 手 。一 釣 上 金 鉤。

Dịch nghĩa:   Dù việc khó khăn chớ nản lòng,

Ngại gì  không nói lúc thành công

Cần dài nắm chặt trong tay đó,

Nhắp mồi được cá thoả lòng mong.

Chú giải:  Định mệnh của con cá dưới lưỡi câu trong tay người cầm, nhưng người cầm cần câu chờ đợi mồi ngon để thỏa mãn khẩu vị, vì thế mà đời vẫn lẩn quẩn “Nước trong leo lẻo cá đớp cá.” Bên cạnh đó thì “trời nắng chan chan người trói người”. Ấy là hai câu đối đáp của thần đồng Lê Quí Đôn khi đi ngang qua dinh quận, thấy quan phạt người dân đứng giữa trời nắng, ông tỏ vẻ đau đớn, xót xa. Hành động này tố cáo sự tàn ác của quan đó. Ông quan bắt nạt chú bé này tiếp: Ê! Mày là học trò hãy đối lại câu này, nếu không ta sẽ phạt, ông mới ra câu đối trên: nước trong leo lẻo..Còn câu dưới thì ông đối lại thật tài tình. Ấy là vô Đạo

Nay Đạo mở có đủ Tân Luật và Pháp-Chánh-truyền tức là truyền chánh pháp để định phẩm giá của con  người trong cửa Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ. Luật ấy xác nhận rằng: “Chịu dưới quyền thiêng-liêng của Tạo-hóa, sanh sanh tử tử, luật lệ ấy vốn nơi Trời, số số căn căn Thiên điều đã định; người chỉ đặng có một quyền tự lập, là mình làm chủ lấy mình, luân luân chuyển chuyển, giồi cho đẹp đẽ Thánh-Đức căn sinh, đặng lên tột phẩm-vị thiêng liêng mới nhập  vào cửa vô-vi đồng thể cùng Trời đất”.

&

QUẺ 153:

Sự tiền ưng hữu khủng, vị vi khủng tiên chí,

Dục vãng thả trì trì, hoàn tu tái thế lực.

事 前 應 有 恐 。未 為 恐 先 躓 。

欲 往 且 遲 遲 。還 須 借 勢 力

Dịch nghĩa:  Trước việc nên lo nghĩ

Trượt ngã cũng có khi

Muốn đi còn sợ muộn

Nhờ thế lực phòng nghi.

Chú giải: Sợ tức là chưa tự chủ, hễ chưa tự chủ thì nói gì đến thành công, thất bại ? Hễ nghi thì đừng dùng mà khi dùng thì đừng nghi. Đó là một sự cứng rắn. Dù khó hay dễ không là chuyện đáng nói, duy chỉ có một điều là dứt khoác. Nếu ai bảo anh rằng: Tới cũng chết, lui cũng chết, bước ngang qua cũng chết, mà bước lệch cũng chết. Anh hãy an nhiên mà đưa tư tưởng mình vượt lên cao vậy.         

Nay Đạo mở ra dạy cho ta quyền tự chủ: “Quyền tự chủ ấy, vẫn đã định trước đặng làm cho cả nhơn-sanh vui theo Cơ tấn-hóa  thì dầu cho Thầy cũng không cải qua đặng; vì hễ sửa cải thì là mất lẽ công bình Thiêng-liêng đã định, làm chinh-nghiêng cơ thưởng phạt. Hễ có công thưởng tội trừng thì phải để rộng quyền cho người tự chủ.           Thiên-cơ đã lập có Điạ-Ngục với Thiên Đàng, ấy  cảnh thăng, cảnh đọa .

          “Địa-ngục dành để cho kẻ bạo tàn,    

          “Thiên đàng cho người đạo-đức, thì cân Công-bình Thiêng-liêng đã sẵn. Ấy vậy chẳng buộc ai  vào Địa-ngục mà cũng chẳng nâng đỡ ai đến Thiên-đàng. Đôi đường hiển-hiện, tự quyền người lựa chọn, siêu đọa tại nơi mình, các Đấng thiêng-liêng duy có thương mà chỉ dẫn”

                              (Pháp-chánh-truyền, trang 53)

&

QUẺ 154:

Túc bất an dữ bất an, lưỡng lưỡng sự tương đắc,

Ưu lai khước hựu hoan.

足不 安 與 不 安。 兩 兩 事 相 得 。憂 來 卻 又 歡

Dịch nghĩa:  Việc chưa đầy đủ thiếu bình an

Hai việc song hành được khả quan

Lo lắng vì lòng chưa vững tín

Thời trời đưa đến việc hân hoan.

Chú giải:  quẻ này khởi đầu bằng chữ “thiếu bình an” thế nào là an ? Trong chữ AN thì kết hợp bởi trên là bộ miên là mái nhà, dưới là chữ Nữ. Như vậy thì người nữ đóng một vai trò quan trọng trong buổi nhiễu nhương này.      

Vậy vấn đề “Nam nữ bình quyền” trở thành định mệnh. Xem trong Trời đất từ xưa đến nay chưa từng có một người nào được ra khỏi cái vòng định mệnh ấy. Trăm năm là  mãn cuộc, dầu là kẻ ấy tài ba cái thế hay là hạng cùng đinh trong xã hội, rồi tất thảy cũng chung chịu trong luật định mà thôi. Vậy tại sao mình không noi gương của Thánh Hiền đã bao ngàn đời còn danh lưu muôn thuở ? Nhìn xem các Đấng ấy có tham danh không, mà vẫn có danh ? Còn thế sự đi tìm kiếm công-danh mà rốt cuộc cũng vẫn là mai một. Vì sao vậy ?

&

QUẺ 155:

Đỉnh chiết túc, xa thoát bức,

Hữu qúi nhân, trùng chỉnh tục.

鼎 折 足 。車 脫 輻 。有 貴 人 。重 整 續

Dịch nghĩa:  Việc đầu như đỉnh gãy chân

Xe rời khỏi trục khá ngần ngại lo

Quý nhân phụ giúp công to.

Sửa sang đỉnh vạc, xe cho an toàn.

Chú giải: Đỉnh là vật dùng để nấu thức trong gia đình gìau có, sang trọng. Sau khi nấu xong thì dùng chuông đánh vang lên làm hiệu để mời gọi đến ăn. Thế nên danh từ “Đỉnh chung” khởi từ đó. Nay đỉnh gãy chân còn dùng vào đâu ? Giờ này có người đến giúp sửa sang lại thì an toàn thôi. Nhớ lại Việt Nam thời kỳ trước khi Pháp chưa đô hộ thì Việt Nam chịu sự đô hộ của Tàu, cũng lắm điều cay đắng cả ngàn năm. Rồi khi Pháp sang đô hộ Việt Nam cũng vì tham vọng trên 80 năm. Nay, Chí Tôn an ủi cho dân tộc Việt Nam qua hai lần đau khổ, chính Ngài ký với dân tộc Việt Nam bản Đệ Tam Thiên nhơn Hòa ước. Nhìn vào Tam Thánh cũng đủ thấy rằng Đấng Thượng Đế đã trả lại một sự công bằng tuyệt đối. Ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm đại diện cho một dân tộc bị trị, thế mà giờ này là Sư phó của Bạch Vân Động tức là Thầy của hai vị Thánh: Pháp và Tàu. Chúng ta có hài lòng không? Làm Thầy về  tinh thần cao quí lắm! Ấy là lúc Chí Tôn đến làm nhiệm vụ: “Sửa sang đỉnh vạc, xe cho an toàn”. Đây là bài Cơ của một người Pháp hầu đàn:

“Thầy dạy: Các con phần nhiều biết tiếng Lang-Sa (Francais). Thầy dùng nói cho các con dễ hiểu Đạo-lý.

          - Phẩm-tước là gì ? Cuả cải danh vọng là gì ?   

           Phẩm-tước là sự tổng hợp các chức-tước đã bày ra để quyến-rũ người hoặc ít hoặc nhiều. Những chức-tước âý do người đời tạo ra phong thưởng kẻ khác.

          - Giá-trị của các chức tước ấy ra sao ?

          - Giá-trị những chức tước ấy tùy theo mà tạo nó ra.

 Việc chi do người đều phàm cả nó không bền, thường thường bị hư hỏng và tiêu tan ngay sau khi người đã được nó tặng bị cướp mất sự sống. Các con hãy tìm tước phẩm nơi cõi thiêng-liêng, tước phẩm ấy mới là vĩnh-viễn. Còn tài-sản là tổng-quát các vật qúi gía của con người đã thu nhặt trên thế-gian này.

&

QUẺ 156:

Dự mưu ngôn ngữ, ba đào dương phất,

Sự cửu vô thương, thời thời bất lợi.

譽 謀 言 語 。 波 濤 揚 pht

事 久 無 傷 。時 時 不 利

Dịch  nghĩa:  Lời nói mưu toan chuẩn bị rồi

Sóng trào, gió dậy, nước như sôi

Việc cầu chỉ tổn thương vô ích,

Không lợi ngày lâu, kíp vãn hồi.

Chú giải: Người ta tìm đến thầy bói, hoặc cầu thần linh để giải quyết điều gì ? Không ngoài danh, lợi, tình. Nhưng người cầu luôn muốn làm sao tất cả đều đứng trên thiên hạ thì mới an lòng. Nhưng liệu có ai giải quyết cho mình được không? –Không bao giờ. Hãy nghe lời Đức Thượng Đế dạy:

            “Danh-vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn-ngủi và thường thành tựu  nhờ nơi sự gian trá. Danh quyền nơi trời là bền chắc nhứt. Và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử-thách.

       (Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng phẩm-tước của cải và danh-vọng của Trời?)

           Thầy trả lời: “TU ”       (TN/136)

                                  Thi văn dạy Đạo

Lợi danh đã đoạ biết bao người .

                        Nhiều kẻ nay còn ý dễ ngươi.

                        Hễ muốn lợi danh mang thất đức.

                        Thờ chung danh lợi hết thờ Trời

&

QUẺ 157:

Quí khách tự tương thân, công danh thoá thủ thành, hoạch kim tu tích đức, ngưỡng vọng thái dương thăng.

貴 客 自 相 親 。功 名 唾 手 成 。

獲 金 須 積 德 。仰 望 太 陽 升。

Dịch nghĩa:   Khách quí tự nhiên đến kết thân,

Công danh chớp mắt cũng hoàn thành

Chứa vàng lẫn đức nên ghi nhớ,

Ngửa mặt trông trời, tước lộc tăng.

Chú giải: Cái hạnh phúc của người đời là đặng phú quí vinh sang, hưởng đủ: Phúc, Lộc, Thọ.Nhưng khi đã hưởng trọn vẹn rồi nên nhớ lời dạy Đạo của Đức Chí-Tôn. Vì khi Đức Ngài đến mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ giáng cho không biết bao nhiêu thi văn dạy Đạo để nhắc-nhở rằng:

   .             Lánh đường trần tục đến non Tiên,

        Lấy nước nhành dương tưới lửa phiền.

        Đã chẳng phải duyên không phải nợ.

        Can chi con buộc tấm tình riêng

&

QUẺ 158:

Bình địa khởi ba lan, sở cầu sự viết nan,

Tiếu đàm chung hữu vọng, đồng tâm sự giác hoan.

平 地 起 波 瀾 。所 求 事 曰 難 。

笑 談 終 有 妄。同 心 事 覺 歡。

Dịch nghĩa:  Sóng gió khởi lên giữa đất bằng

Mưu cầu việc lớn khá gian nan

Nói cười vui vẻ như mây thoảng,

Tâm ý may ra thuận mọi đàng.

Chú giải:  Đất bằng sóng dậy là điềm vui ít khổ nhiều.        

- Hỏi tại sao nhơn-loại buổi này khổ nhiều, vui ít ?

              Bởi: “Màn Trời che lấp dấu trần, đạo Thánh dắt dìu bước tục, cuối Hạ-nguơn biết bao đời thay đổi. Trái cầu sáu mươi tám (68) này bỗng nhiên có một lằn yến sáng Thiêng-liêng để thức tỉnh khách phàm, chiếu dẫn người hữu-căn hầu cứu khỏi họa Thiên-điều sẽ vì hung bạo của sanh linh mà diệt tận. Chới-với biết bao người giữa lượn sóng trầm luân, mà con đường xô đẩy khách trần vào chốn đắm-chìm hằng vẽ cảnh cùng sầu cho nhân loại. Đường tội phước chẳng biết cân, gương dữ lành không để ý. Triền cao vực thẵm, rừng trước, non xưa, cảnh vẫn đợi kẻ tìm về, nhưng giọng ai-oán của khách lạc đường chẳng thế vạch Trời xanh soi thấu. Nào nhân xưa, nào đức trước, nào sách Thánh, nào lời Hiền, trải qua chưa trăm năm mà cuộc cờ đời đã rửa phai hạnh Đạo. Thế thì nhơn-loại nếu chẳng có mối Huyền-vi để nhắc chừng tâm tánh, sẽ vì mồi danh lợi, miếng đỉnh chung mà cắn xé giựt giành, giết hại lẫn nhau cho đến buổi cùng đường, rồi vì hung bạo ấy mà cảnh dinh-hoàn này chẳng còn sót dấu chi của nhân-vật cả.

&

QUẺ 159:

Cuồng phong xuy khởi hắc vân phi,

Nguyệt tại thiên tâm già bất đắc,

Nhàn thời vô sự tạm tương quan,

Đáo để y nhiên vô khắc bác.

狂 風 吹 起 黑 雲 飛 。月 在 天 心 遮 不得 。

閒 時 無 事 暫 相 關 。到 底 依 然 無 刻剝。

Dịch nghĩa:   Gió cuồng thổi dạt đám mây mù

Trăng giữa trời cao há khỏi lu

Lúc nhàn suy nghĩ tìm phương giúp.

Sau rốt rồi thông chẳng khắc thù.

Chú giải:  cảnh nhàn lạc đã đến rồi đó. Việc cầu hỏi ắt hân hoan. Vui đi! Vui để lo, Vui để đem hết năng lực của mình ra phụng sự. Ông Trời vì phụng sự cho nhân loại mới làm Trời. Cha mẹ vì phụng sự con cái mới làm cha mẹ. Chứ thực sự có hưởng lợi lộc gì  riêng đâu. Nhưng cái vui tinh thần khó kiếm thật. Đây lời Đức Thượng Đế dạy:     

“Chúng sanh ráng biết lấy. Thầy hằng muốn cho các con hiệp chung nhau mở đường Chánh-giáo, phải biết tương-thân, tương-ái chia vui sớt nhọc cho nhau mà dìu dắt chúng sanh, Nếu vì chút phàm tâm mà chia đường phân nẻo, ghét nghịch lẫn nhau, các con sẽ treo gương bất-chánh cho kẻ sau, lại nền Đạo cũng vì đó mà khó mau thành đặng.  Các con khá để ý đến, ấy là các con hiến cho

Thầy một sự thành-kính trọng hậu đó” 

&

Quẻ 160:

Nhàn ỷ lâu, hứa đa sầu, đạm nhiên tấn bộ,

sự thuỷ vô ưu.

人 倚 樓。 許 多 愁 。澹 然 進 步 。事 始 無 憂

Dịch nghĩa: Tựa lầu lòng những xuyến xao,

Nghĩ bao nhiêu nỗi quyện bao tình sầu

Đột nhiên tiến đạt lên cao

Niềm lo tiêu tán thay vào hân hoan.

Chú giải: Quẻ này ứng điềm trước có điều lo nghĩ, nhưng sau lại được hài hòa. Nhưng cái vui của đời không lâu dài, vì dù cho gia đình hạnh phúc ấm êm, nhưng chung quanh mình vẫn còn nhiều đau khổ. Vui ấy còn nhiều nỗi riêng không gọi là ích kỷ thì gọi bằng gì? Hãy tìm cái vui chung  

            Thầy vẫn hằng than:“Ôi! Thầy vì mấy chục ức nguyên-nhân, không nỡ để cho ngôi phẩm tan-tành, chớ lấy luật Thiên-Thơ thì không một ai dự vào Kim bảng.

          Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh Thiêng-liêng. Thầy thấy nhiều, tu cũng muốn tu mà thế tục cũng không chừa bỏ. Thế tục là nét dìu-dắt cho mất tánh Thiêng-liêng, phải lấy nghị-lực can tâm mà kềm chế, thì cái lối diệt vong mới chẳng làm uổng công phu hành-đạo cho”    (TNII/ 68)

&

QUẺ 161:

Nhứt điểm trước dương xuân, Khô chi đoá đoá tân,

Chí chuyên phương ngộ hợp, thiết kỵ nhị tam tâm.

一 點 著 陽 春 。枯 枝 朵 朵 新 。志 專 方 遇 合。

切 忌 二 三 心。

Dịch nghĩa:  Ánh xuân chiếu khắp hồng trần

Muôn hoa phô sắc nẩy mầm chồi khô

Chí chuyên hội ngộ đâu ngờ,

Nên phòng tâm ý đổi dời nhiều phen.

Chú giải:  Cái vui của những tâm hồn lớn là vui cái vui của người lẫn trong niềm vui của dân tộc, của tổ quốc. Vì giang san này hôm nay chúng ta đứng nơi này mỗi tấc đất là mỗi tấc xương trắng máu đào hòa lẫn trong đó. Khi một người nhắm mắt phải bao nhiêu người mở mắt. Mở mắt để thấy tình đời lạnh nhạt, đau đớn, ê chề, khổ đau.          

-“Nay là ngày kỹ-niệm nước Việt-Nam, nòi giống Lạc-Hồng được hữu-phước nhờ Đạo Trời khai mở, gỡ ách nạn cho nhân-loại và từ từ gỉai được ách nô-lệ cho dân-tộc, dòng-dõi Tổ-phụ sẽ được phục nghiệp, dân Việt-Thường sẽ xuất hiện nhân-tài, phá tan xiềng xích, chẳng còn bị lệ thuộc nữa.. Qua một thời gian dài dân Tàu có người giỏi địa lý biết vận mạng Việt Nam rồi sẽ phát Vương phát tướng, nên chúng cho người sang ếm cho tắt nghẽn đi. Nhưng Việt Nam là một quốc gia thiên định chỉ chịu nạn thời gian rồi Thượng Đế cũng cho các Đấng đến mách bảo và gỡ xong các ếm, giải tỏa hết những vết tích oan cừu đó

Sau khi lấy ếm xong, Đức Hộ-Pháp liền ra lịnh cho đào một con kinh nhỏ, bắt đầu từ ngọn Tràm sập băng ngang qua chót mũi “Long-Tuyền-Kiếm” cho bứt, hầu trừ được sự sát hại của pháp ếm “Long-tuyền-kiếm”.Xem thế, nếu không phải là quyền-năng Thiêng liêng gỡ ách nạn cho dân-tộc Việt-Nam thì dưới con mắt phàm có ai làm được ?

&

 

QUẺ 162:

Đạo lộ điều diêu, môn đình bế tắc,

Vụ ủng khứ hề, vân khai kiến nhật.

道 路 迢 遙 。門 庭 閉 塞

 霧 擁 去 兮 。雲開 見 日

Dịch nghĩa:  Xa xôi đường sá cách ngăn

Cửa nhà đóng kín khó toan điều gì

Sương mù che khuất lối đi,

Trời trong rõ mặt tức thì mây tan.

Chú giải: Điềm tốt, quẻ bói được sự lành. Cầu tài lợi, cầu duyên đều tốt.Nhưng trước phải cẩn ngôn, cẩn hạnh. Đừng

vội, đừng khinh. Có chút việc lo cũng vượt qua được.

Quẻ này ứng hiệp với sự việc của dân-tộc Việt Nam  cũng tin tưởng rằng Trời cao có Mắt. Và thường nói rằng “Mưu sự tại nhân, thành sự tai Thiên”

Thi văn dạy Đạo

Mực ngay khó nỗi đoán cây cong,

Biết chút công tu đặng thoát vòng

Thế sự ép oan thêm buộc nghiệt,

Đời kia với Đạo chẳng so đồng.

&

QUẺ 163:

Ngư thượng điếu, ty luân nhược,

Thu thập nan,  lực tái trước.

魚 上 釣絲 綸 弱。 收 拾 難 。力 再 著

Dịch nghĩa:  Cá đã ăn câu thoả ước ao,

Dây, cần mỏng mảnh liệu phương nào!

Thu vào càng khó, lòng thêm ngại

Cố gắng nữa đi góp sức vào!

Chú giải: Cá đã ăn câu là điều đắc chí của người đi câu, Nhưng nhìn lại thì “Dây, cần mỏng mảnh liệu phương nào!”. Chưa chắc đâu đừng vội mừng. Kiểm điểm lại xem.

Hãy nghe “Thầy thường nói với các con: Lập một nước thì dễ mà trị một nước thì khó. Về mặt tinh thần, lập một nền Đạo lại khó mà trị một nền Đạo lại khó nữa. Vì phải hàng phục nhơn tâm thành hay bại là do nơi đó.”

Hẳn nhiên nếu Đạo cao một thước thì ma quái nó mưu đồ cao hơn một trượng. Đạo đã cao hơn một trượng thì ma nó thượng lên đầu người. Do câu “Đạo cao nhứt xích ma cao nhứt trượng. Đạo cao nhứt trượng ma thượng đầu nhân” (một trượng thì tính bằng mười thước ta). Nói chung thì loài yêu ma có tính ranh mãnh lắm! Mà yêu ma là ai? Phải chăng chỉ những tâm-hồn hay tráo trở, họ không tôn-trọng lời hứa, nói qua nói lại, cố làm phản lại cái chơn-lý sống cao-thượng của con người, cốt để giành phần thắng bằng bất cứ giá nào; thế nên một người chân thật, biết tự-trọng không thể sống chung hạng người này được là vậy.

&

QUẺ 164:

Tương dẫn cánh tương khiên, ân cần hỉ tự nhiên,

Thí vi vô bất lợi,  sầu sự chuyển đoàn viên.

相 引 更 相 牽 。殷 勤 喜 自 然 。

弛 為 無 不 利 。愁 事 轉 團 園。

Dịch nghĩa:  Thân thiết dìu nhau đến bến bờ

Ân cần vui vẻ chớ làm ngơ

Làm ơn há dám mong điều lợi

Tiêu tán nỗi sầu thoả ước mơ.

Chú giải: Quẻ này ứng điềm lành, có thể đây là bất vụ lợi, nhưng người không vụ lợi thì mình phải cao thượng hơn thì mới bền chắc. Phải biết luật đồng thanh khí chứ!        

        Tiền nhân đã biết “Chọn lọc chiên lành cho đáng giá,

           “Phòng sau nối nghiệp Đạo ngàn thu”

Cũng vì lẽ ấy mà các bậc tiền-bối chúng ta không vị nào mà không phải chịu nhiều sự lao tâm tiêu tứ. Phải kể Đức Cao-Thượng-Phẩm là một mẫu người nhân-hậu như thế mà cũng không khỏi đau lòng trước nghịch cảnh và sự phản-khắc Đạo-quyền. Chính Đức Cao-Quỳnh-Cư vâng lịnh Đức-Chí-Tôn xin nghỉ việc làm ở ngoài đời trước nhất, có nghĩa  ông là người trọn “phế đời hành Đạo” ngay sau khi Đạo Cao Đài khai mở tại Từ-Lâm-tự (Gò-kén Tây-ninh) vào ngày rằm tháng 10 năm Bính-Dần (1926).

&

QUẺ 165:

Nghi nghi nghi, nhứt phiên tiếu bãi nhứt phiên bi,

Lạc hồng mãn địa vô nhân tảo,

độc đối tây phong trướng đại my.

              疑 疑 疑 。一 番 笑 罷 一 番 悲 。

落 紅 滿 地 無 人 掃 。獨 對 西 風 悵 黛 眉。

Dịch nghĩa:  Lắm nỗi nghi nan trước sự tình

Nụ cười vừa dứt lại buồn tênh

Hoa rơi đầy đất không người quét

Nhìn gió mày chau những bất bình.

Chú giải: Quẻ này ứng điềm lành, cao thượng. Phần tâm linh rất đáng quí. Là gương của Đức Thượng-Phẩm sau khi nhắm mắt lìa đời, Ngài có giáng ban cho bài thơ, là lúc di Liên-đài ra Bửu tháp, thơ như sau:

Xủ aó trần hoàn đã rảnh tay,

Thung-dung nhờ núp bóng Cao-Đài.

Rừng tòng nhựt rọi khi mờ tỏ.

Sớm lạc trăng lồng kẻ tỉnh say.

Phi thị mặc đời nơi quán tục .

An-nhàn rảnh dạ khách Thiên-Thai .

Ngậm cười nêu quạt chờ sanh-chúng

Biển khổ ngày qua đếm một ngày

&

QUẺ 166:

Thượng hạ bất hoà đồng, lao nhi lai hữu công,

Xuất  môn thông đại đạo, tòng thử bảo sơ chung.

上 下 不 和 同 。勞 而 來 有 功 。

出 門 通 大 道。從 此 保 初 終。

Dịch nghĩa:  Trên dưới chẳng hoà đồng

Lao nhọc sẽ có công

Ra ngỏ đường thông suốt

Bảo đảm được đến cùng.

Chú giải: Ra ngõ chẳng hòa đồng là chữ Nhân làm  khởi điểm, cái nguyên-tố đầu tiên sanh ra vạn-vật, một hột giống bao bọc trong lớp vỏ, ai biết nó lớn đến độ nào? Một cái  thân cây cả vòng tay ôm không xuể cũng khởi điểm từ một hột tí-ti ấy. Thế nên chữ đại nằm bên trong bộ vi (vi là bao quanh), nó bao bọc như một khung trời vô tận. Tất cả mọi vật trong vũ-trụ này không ngoài nguyên lý ấy; vậy nguyên-lý ấy do nơi Trời.

             Nếu nhìn vào một con người thì ai cũng giống như ai, nhưng nếu có khác chăng là ở cái đầu óc con người, có kẻ thông-minh trí-hóa, có kẻ trí kém, khờ-khạo, hỏi do gì? Chắc hẳn là do vốn tích lũy ngàn đời cho đến bây giờ. Nếu không như vậy, sao trong nguơn hội này, có kẻ đến làm rường cột của nền Đại-Đạo? Có kẻ đến chỉ để toan phá Đạo. Hỏi do đâu?  Nếu nói về bề ngoài thì người ta ai cũng có thân-thể hình tướng như nhau, nhưng bên trong cái khí khái phi thừơng, cái tâm đạo-đức bao la nào ai biết được!

&

QUẺ 167:

Đại sự khả thành công, hữu ích hoàn vô cữu,

Vân trung chấp tiên nhân, báo tại tam thu hậu.

大 事 可 成 功 。有 益 還 無 咎。

 雲 中 執 鞭 人。報在 三 秋 後。

Dịch nghĩa:  Việc lớn khá thành công

Ích lợi mà không lỗi

Người hùng hiện trong mây

Sau thu tin sẽ tới.

Chú giải:  Điềm lành ứng trong quẻ này. Nếu trong ngoài ứng hiệp thì nói được là toàn. Một quẻ như thế ở vào thượng thượng. Nhưng coi chừng sự tốt lành này nếu ở cuối sự việc như người đứng trên đỉnh núi cao tất phải chuẩn bị xuống núi. Lẽ nào ở mãi trên ấy được sao? Tận cùng tắc biến, biến tắc thông là lẽ ấy. Việc lập thân phải vững mới được. Trên mặt chữ: lập là đứng (tức nhiên trái với nằm) thân là cái thân-thể hữu hình này đây. Bởi khi con người mới lọt lòng mẹ ra thì cái đầu quay xuống mới gọi là sanh thuận, còn trái lại là sanh nghịch tức là cái đầu quay lên. Phải là thuận như vậy mới hợp cái lẽ của đất trời, vì con người tiến-hóa  trong định-luật của bát hồn. .

&

 

QUẺ 168:

Tang du thôi mộ cảnh, khuyết nguyệt khủng nan viên, nhược ngộ đao chuỳ khách, phương tri hỉ tự nhiên.

桑 榆 催 暮 景。缺 月 恐 難 圓。

若 遇 刀 錐 客。方 知 喜 自 然。

Dịch nghĩa:  Ánh vàng giục giã trời chiều

Trăng vơi đâu dễ tròn theo tháng tàn

Gặp người kiếm khách hiên ngang

Niềm vui tự đến an toàn tấm thân.

Chú giải: Trời chiều tức là sắp hết ngày, trăng khuyết là sắp hết tháng, tất cả đều thấy được bằng mắt. Hữu hình. Nhưng phần còn lại: kiếm khách hiên ngang, niềm vui đến là phía sau. Việc ứng hiệp rất lành, không bị hại. Có phòng xa. Người đoán quẻ này an tâm như trường hợp sau :

Đức Hộ Pháp xuống thế mở Đạo thì Đức Chí Tôn mới hỏi rằng: Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí-pháp trước hay là mở thể-pháp trước ?

            Bần-Đạo mới trả lời:- Xin mở Bí-pháp trước

           Chí-Tôn nói: Nếu con mở Bí-pháp trước thì phải khổ đa ! Đang lúc đời đang cạnh-tranh tàn-bạo, nếu mở Bí-pháp trước cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại, thì mối Đạo phải ra thế nào ? Vì thế  nên mở Thể-pháp trước, dù cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cả cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại. Xin miễn là mặt Bí-pháp còn là Đạo còn”

&

QUẺ 169:

Biến thư tiền tiền sự, nan hiểm vãng lai nan

Nhược đắc thanh phong tiện, biên chu ngộ viễn san.

遍 書 前 前 事。 難 險 往 來 難 。

若 得 清 風 便。 扁 舟 遇 遠 山。

Dịch nghĩa:  Thư từ ngày trước gởi trao,

Khó khăn hoàn cảnh khó vào khó ra

Gói lành thấu hiểu cho mà

Thuyền nan lướt sóng vượt qua núi đèo.

Chú giải: Điềm này ứng về một sự tranh chấp trong tư tưởng, nhưng phải quyết thắng sẽ đến thành công. Trước còn lận đận sau mới vinh quang. Quẻ này ứng với lời của Đức Hộ-Pháp thuyết rằng: “Mấy em! Bần Đạo đứng trước giảng đài nầy thừa lịnh Đức Chí Tôn, làm Anh cả mấy em để lời tâm huyết dặn rằng: Buổi mấy em bị áp bức, mấy em sợ, phải bảo vệ tức là phải tranh đấu, giờ phút nầy mấy em mạnh rồi, có đủ oai quyền, đủ năng lực nên bỏ phương pháp tranh đấu ấy đi, trải lớp từ bi ra đặng độ thế. Qua cho mấy em biết đại nghiệp của Đạo ngày nay đáng làm anh, làm chủ được thiên hạ, không cần tranh đấu nữa, lấy từ bi mà đối với Đảng Phái một lỗi hai lầm, ngày nay ăn năn trở lại.”

&

QUẺ 170:

Mạc thán tàn hoa, hoa khai khô thụ,

đương đầu xuân ý, hỉ tiếu hi hi.

莫 歎 殘 花 。花 開 枯 樹 。

當 頭 春 意 。喜 笑 嘻 嘻

Dịch nghĩa:   Đừng buồn khi thấy hoa rơi

Có ngày hoa nở giữa chồi cây khô

Ý xuân vừa thắm xuân mơ

Cười vui thoả dạ bỏ giờ ngại lo.

Chú giải: hoa rơi là điềm không mấy vui, nhưng còn chút hy vọng “hoa nở giữa chồi cây khô”điềm vui chắc sẽ lại trong không khí mới mẻ hơn, khác nào nền đạo đang lúc chia phe phân phái, tuy cũng khó khăn cho người điều hành guồng máy đạo, nhưng có Âm ắt có Dương, cũng thường tình thôi. Hãy nghe lời Thầy dạy: Bà Rịa,19-10-

Đinh Mão (dl:13-11-1927): “Thầy vui lòng mà trông thấy các con lo nền Đạo. Buồn cho những đứa muốn chia phái đảng, chẳng hiệp chung lo, đứa nào cũng muốn giành phần hơn, trở lại mà trách bẩn lấy nhau, như chim nọ lìa nhành, thung dung muốn bay khắp cả thế giới, song tài  chi  mà đặng. Thầy đã  giao trọn quyền cho các con  cư  xử lấy, Thiên  ý như vậy, song chẳng thấy đứa nào đứng ra giành phần. Còn nơi đây, con Tương, cũng nên đợi mãn kỳ hạn, rồi sẽ chung lo với các Môn đệ của Thầy. Thầy muốn cải Thiên cơ, song không thế nào đặng, phải chịu công quả đặng chờ thời. Phàm trong phần đời  lo cho hoàn toàn thì Đạo cũng theo kế đó, chớ đâu xa.”

&

QUẺ 171:

Nhứt sự tổng thành không, nhứt sự hoàn thành hỉ, nhược ngộ khẩu biên nhân, tâm hạ kham bằng uỷ.

一 事 總 成 空 。一 事 還 成 喜 。

若 遇 口 邊 人 。心 下 堪 憑 委。

Dịch nghĩa:   Một việc thành vô vọng

Một việc thoả hoài mong

Nếu gặp người lắm chuyện

E khó gởi nỗi lòng.

Chú giải: Hai lý Âm Dương luôn hòa quyện nhau, cũng là định luật, như lời Đức Hộ-pháp nhận định:

“Ta thường nói Đông Tây không bao giờ gặp nhau. Câu đó không thể áp dụng được trong giới triết-học tuy có đến hàng trăm đường lối khác nhau, nhưng chung qui cũng gồm về một mối. Lấy cái thực học Âu Mỹ để so-sánh với thực-học Á đông cân nhắc nhau thì phần nhiều cái học Á-đông bị lu mờ chỉ vì cách trình bày, luận-lý không rõ ràng, còn về phần tinh-thần thì bao trùm được khắp võ-trụ như: Thiên văn, Địa-lý, Dịch-lý mà ông cha ta vẫn cho là những môn học khó-khăn, huyền-diệu. Vì những lẽ trên, ta thấy khó khăn, khúc-chiết mà xếp đặt cái học-thuyết âý vào hàng tâm-truyền hay bí-truyền. Nhưng nếu ta lấy cái học-thuyết hiện tại của Âu Mỹ hoà với DỊCH-LÝ  để giải cho rõ, ta cảm thấy cái lý học Á-đông đã đến chỗ tuyệt-đối huy-hoàng”.

&

QUẺ 172:

Dục đắc nguyệt trung thố, tu bằng đào lý phất,

Cao sơn lai tiếp dẫn, song hỉ chiếu song mi.

欲 得 月 中 兔 。須 憑 桃 李 拂 。

高 山 來 接 引 。雙 喜 照 雙 眉。

Dịch nghĩa:  Muốn vời thỏ ngọc trong trăng,

Nương theo đào lý hương nồng gió đưa.

May duyên người tốt vẫn thừa,

Niềm vui hiện đến đôi bờ mắt xanh.

Chú giải: Điềm này ứng vào việc Nhân nghĩa, là một trong phương tu của Đạo Cao-Đài theo tinh thần Nho Tông chuyển thế. Người chiếm quẻ này nên thấy mình có một tinh thần Nhơn đạo cao, thực tế nhứt mà cũng làm nền cho Thiên đạo. Có câu “Dục tu Thiên đạo tiên tu Nhơn đạo, Nhơn đạo bất tu Thiên đạo viễn hĩ”. Thật vậy, chỉ lấy chữ Nho mà giải cũng đủ thấy điều ấy: nếu lấy hai chữ Nhị và Nhân ghép lại có ba trường hợp xảy ra:

1-NHÂN 仁 (gồm Nhị và nhân) nghĩa là: tỏ lòng thương người mến vật chẳng nỡ sát hại sanh mạng, noi theo lòng từ-bi của Ðức Chí-Tôn mới gọi là đức nhân .

2-NGUYÊN (gồm Nhị và nhân) là đức đầu tiên của Trời trong 4 đức là: nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Với người cũng thể theo trời có 4 đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Như vậy thì Nguyên hay Nhân cũng là một, chứng tỏ rằng Thiên nhân tương hợp rồi vậy.

3-THIÊN (gồm Nhị và nhân) hai gạch ngang trên và dưới của chữ Nhị thì nét trên chỉ trời (thiên thượng), nét dưới chỉ đất (thiên hạ), giữa là người (nhân). Câu này ứng với lời của Phật mới chào đời nói: “thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn” là như thế đấy. Người đứng vào Tam tài

Nay, nền tảng Ðạo CAO-ÐÀI là Nho-Tông chuyển thế, trước cửa Tòa-Thánh có biểu-dương hai chữ NHÂN NGHĨA 仁義 thật to, thì thấy chữ NHÂN là chủ sự thương-yêu. Có câu: "Trắc ẩn chi tâm ái vật chi lý, bất sát bất hại thể háo sanh chi đại-đức vi nhơn". .Bởi sự thương yêu mà vạn-loại hòa bình, Càn-Khôn an tịnh, đặng an-tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, không thù nghịch lẫn nhau mới không tàn hại nhau; không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa" (ấy là chơn luật thương-yêu). Còn Chơn Pháp công-bình, thì Thầy có dạy rằng: "Ðạo của Thầy là công-lý, ngày nào các con còn trông thấy một điều bất bình ở thế nầy, thì Ðạo chưa thành tựu".

&

QUẺ 173:

Sự toại vật ưu tiên, xuân phong hỉ tự nhiên,

Cánh thuỳ tam xích điếu, đắc ý hoạch lân tiên.

事 遂 勿 優 煎 。春 風 喜 自 然。

更 垂 三 尺 釣 。得 意 獲 鱗  鮮。

Dịch nghĩa:  Toại thành công việc chớ lo,

Gió xuân vui vẻ an hoà tự nhiên.

Buông cần xuống vực sâu hơn,

Cá to bắt được đâu sờn lòng mong.

Chú giải: Cá cũng là loài có trong vạn linh, bởi nó có sự sống (sanh hồn), nó có tánh linh biết tìm cái ăn, biết truyền giống (giác hồn), tức nhiên nó kém người về linh hồn mà thôi. Người vì thói quen nhiều đời nên hay giết các vật để ăn thịt tức nhiên phải chịu luật quả báo không sai. Vì ăn nên bị đọa, vì dâm phải bị đày, cứ gây trái oan, oan trái không bao giờ dứt. Trái oan là món nợ về thù giận. Mình làm cho người thù giận mình tức là mình đã mang một món nợ thù giận nơi lòng. Con vật cũng biết thù giận vậy.

Thầy dạy: “Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương”. Kinh Sám hối có câu:

“Trái oan nào khác mối tơ,

                        “Rối rồi không gỡ bao giờ cho ra?

&

QUẺ 174;

Viên hựu khuyết, khuyết hựu viên.

Y y mật mật yếu châu tuyền, thời lai thuỷ kiến duyên.

圓 又 缺 缺 又 圓。 依 依 密 密 要 周 旋。

時 來 始 見 緣

Dịch nghĩa:  Trăng tròn còn có lúc vơi

Vơi rồi tròn lại theo thời chuyển xoay.

Gọn gàng cẩn mật tất hay,

Thời lai mới thấy lẽ hay định phần.

Chú giải:  Quẻ này cũng cho thấy sự việc còn đổi thay, chưa an trụ. Chờ qua một vòng biến dịch mới được đoàn viên. Hãy xem thời cơ ứng với sự việc xảy ra sau đây

Đức Quyền Giáo Tông viết trong Tờ Khai Đạo gởi Thống-Đốc Nam-kỳ Sài Gòn: “Vốn từ trước tại cõi Đông Pháp có ba nền Tôn-giáo là: Thích-giáo, Lão-giáo và Khổng-giáo. Tiên-nhơn chúng tôi sùng bái cả ba Đạo ấy, lại nhờ do theo Tôn-chỉ quí-báu của các Chưởng giáo truyền lại  mới được an cư lạc-nghiệp.  Trong sử còn ghi câu “Gia vô bế hộ, lộ bất thập di” nghĩa là con người thuở ấy an-nhàn cho đến đỗi ban đêm ngủ không đóng cửa nhà, còn ngoài đường thấy của rơi không ai thèm lượm. Nhưng buồn thay cho đời Thái-bình phải mất”. 

&

QUẺ 175:

Thừa sấu mã, thượng nguy pha,

Phòng thất điệt, kiến tha đà.

乘 瘦 馬 上 危 坡 。防 失 跌 見 蹉 跎。

Dịch nghĩa:  Ngựa gầy gắng sức vượt đồi cao,

Lỡ bước sẩy chân cũng té nhào

Biết vật, biết mình tua đắc ý,

Ý tình nghi ngại khó thông nhau.

Chú giải: Quẻ này chỉ vào mực trung. Người chiếm quẻ này chưa toại ý, nhiều nghi ngại. Người trong cuộc thiếu lòng thành, ít tình thương đối với vật. Hãy xét mình để gần đạo đức hơn. Thử xem con ngựa gầy mà bắt phải vượt đường xa có bất nhân không ? Ngựa té là phải. Người làm trái ý Trời. Trước khi làm việc gì phải hỏi lòng: ông trời

có làm điều ấy không? Quẻ này ứng với điềm sau đây:

            Thầy dạy: “Nhiều đứa muốn trái Thánh  ý lắm. Thầy dạy từ đây, con Trung và Lịch phải có mặt nơi Tòa Thánh, trừ ra đứa nào có lịnh dạy đi đâu, hay là mắc đi việc chi về Đạo phải vắng mặt, thì có Phối Sư thế được mà thôi. Con phải chăm nom từ chút và dọ tánh chư Đạo hữu, chớ vội tin, lúc nầy nhiều đứa bị cám dỗ mà sái bước lần. Ấy là lúc Tà Chánh tranh giành với nhau. Đứa nào chẳng giữ được đường ngay thì khó mong đến cùng Thầy đặng đó. Đạo chẳng khó, duy nơi tấc lòng, mà thương hại thay! Từ xưa, công quả của mấy bực chơn tu đều trôi theo dòng bích hết, cũng vì  đó mà nay cũng khó thế tránh được. Các con yêu dấu !  Nên giữ mình cho lắm !”

&

QUẺ 176:

Lưỡng sự dĩ hoà đồng, khinh châu ngộ tiện phong, Đạo mê nhân đắc ý, ca xướng cấp lưu trung.

兩 事 已 和 同 。輕 舟 遇 便 風 。

道 迷 人 得 意 。歌 唱 急 流 中。

Dịch nghĩa:  Vuông tròn hai việc hoà thông,

Thuyền con gió thuận xuôi dòng lướt nhanh.

Đường lầm nhưng được ý thành,

Cười vui ca hát yên lành ngoài khơi.

Chú giải: Quẻ này tốt về phương diện hữu hình đều toại ý, tất cả hanh thông như ước muốn. Tuy nhiên nếu đường đời được ổn định phải soát lại việc đạo đức có toàn chưa? Nếu chưa tiếp tục học. Một triết gia nói về việc dạy con: Con bắt đầu học khi con rời khỏi ghế nhà trường. Lời Đông Phương  Sóc giáng Cơ nói: -Ta là Đông Phương Sóc!

“Nghe nói nhiều tay ham học, hỏi học làm chi ? - Nói học

làm Trời, mà làm người chưa đúng.! Hỏi người tu làm chi? 

- Nói tu thành Phật thành Tiên, mà tánh đảo điên không bỏ. Hỏi sao không biết hổ, còn ngóng cổ cãi hoài. Quấy là ai ? Phải lại là ai ? Hỏi lại ai ai cũng quấy ! Mắt chưa thấy, tai chưa nghe, mở miệng ra khoe tôi là trí thức; đua chen rộn rực, làm in tuồng quỉ chực đàn chay; kẻ nói dở, người nói hay, dở hay không quyết đoán. Tu lâu năm chầy tháng, tu nhiều ngày kết án dẫy đầy, quấy ăn mặn, phải ăn chay, mặn chay chay mặn. Đã biết Trời trao gánh nặng, sao không lo gánh nặng cho rồi ? Xưng mình là đạo đức cao ngôi, sao lại dám bỏ trôi phận sự. Kẻ đa ưu, người đa lự chưa rành, người ganh ghét, kẻ cà nanh thêm sanh ác cảm.

&

QUẺ 177:

Bạch ngọc mông trần, hoàng  kim mai thổ,

Cửu cửu quang huy, dã tu nhân cử.

白玉 蒙 塵。黃 金 埋 土 。久 久 光 輝。也修人舉

Dịch nghĩa:   Bụi mờ phủ kín ngọc châu

Vàng còn lẫn cát ắt sau rõ hình

Sáng loè vật báu như in,

Phải tay thợ ngọc trau gìn mới nên.

Chú giải:  Ngọc là vật báu tự nhiên trong trời đất, nhưng chưa thông dụng cho người, vậy phải qua tay thợ ngọc trau tria mới nên hình nên dạng. Quẻ này người chiếm được hanh thông, thỏa lòng ước muốn nhưng phải qua một giai đoạn thử thách kế tiếp mới bền lâu. Hãy xem sự ứng hợp của quẻ với sự kiện sau đây về quyền hành của Giáo Tông:

“Giáo Tông đặng đồng quyền cùng Thầy mà dạy dỗ cả chư Môn Ðệ của Thầy trong đường Ðạo Ðức, dìu bước từ người, chăm nom săn  sóc cho khỏi phạm Thiên Ðiều, thì là buộc tuân y Tân Luật. Ấy vậy dầu cho phẩm vị nào phạm tội; thì Giáo Tông cũng chẳng vì tình riêng gọi là tha thứ khoan dung. Ðể lòng che chở, làm cho kẻ phạm phải mất Thiên Vị, lại gây điều đố kỵ của nhơn sanh, làm cho nhẹ giá trị của nền Chánh Giáo”.

&

QUẺ 178:

Thượng tiếp hạ ổn, hạ tiếp bất hoà,

Tương hãi tương nhiễu, bình địa phong ba.

上 接 下 檃 。下 接 不 和 。

相 駭 相 擾 。平 地 風 菠

Dịch nghĩa:  Người trên tiếp dẫn tất chu toàn,

Kẻ dưới dắt dìu khó được an.

Bối rối ngại lo đều cả sợ,

Ô hay! Sóng gió giữa đồng bằng.

Chú giải:  Sóng giữa đồng bằng là điềm trời chẳng lành, sự việc chưa thuận theo ý muốn. Phải kiên nhẫn đợi chờ và biết câu thiện ác đáo đầu chung hữu báo, có kẻ phản bên mình, nên đề phòng, đừng nghi oan cho người. Quẻ này ứng với thời phản khắc đạo quyền, nên xét hiểu:

Các Đấng than: “Ôi! Ôi! Nhìn thấy chư Hiền mà thảm, thảm cho người rồi thảm cho đời, đời trở lại phá đời, rồi trở lại nói  đời  quá dữ.  Đạo thì không lo lánh dữ, rồi trở lại trách Trời, có tiền định đổi dời, người sao dám chống Trời ngăn cản. Nay kết phe, mai kết đảng, quyết lòng đánh tản Thiên điều, sớm tự  đắc, tối tự  kiêu, tưởng rằng Đạo bấy nhiêu  là hết. Một câu kinh chưa biết, dám xưng mình rằng thiệt thông minh, kẻ thì chống, người thì kình, kình chống cho  lâu  thêm hại. Kẻ khoe khôn, người nói dại, khôn dại rồi lại tự hại mình. Xuống bút Thần dặn

bảo đinh ninh, phải không phải tự mình hỏi lại:

 Tự  mình  hỏi  lại  tại  vì  đâu ?

Cũng bởi Thiên cơ chẳng dễ dầu.

Dầu chẳng dễ dầu, dầu khó dễ,

     Dễ  dầu,  khó  dễ, chớ  cơ  cầu.

&

QUẺ 179:

Bối hậu tiếu hi hi, trung hành đạo tối nghi

Sở cầu chung hữu vọng, bất tất trứu song mi.

背 後 笑 嘻 嘻 。中 行 道 最 宜。

所 求 終 有 望。不 必 皺 雙 眉。

Dịch nghĩa:  Sau lưng có kẻ chê cười

Thong dong lối giữa tiện thời nhanh lên

Sở cầu sau được tâm yên,

Mày tươi theo nét hồn nhiên toại lòng.

Chú giải: Quẻ này được điềm lành. Làm việc phải không cần nghi ngại. Sau cũng được hòa vui. Phải biết quay về với tâm linh để được phúc trời ban. Của cải số một mà lâu ngày đành quên lãng sao? Phúc lành nằm trong chữ Đạo!

Ðạo là gì?  Sao gọi Ðạo? - Ðạo, tức là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Ðạo là đường của các nhơn phẩm, do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Ðạo, thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Ðạo, nghĩa lý rất sâu xa, nhưng phải hiểu trước bao nhiêu đó, rồi mới học các nghĩa huyền bí khác cho đích xác đặng. Ðời cũng thế, Ðạo cũng thế, chẳng Ðạo chẳng nên Ðời, Ðời Ðạo chẳng trọn, lấy Ðạo trau Ðời, mượn Ðời giồi Ðạo, Ðạo nên Ðời rạng, giũ áo phồn hoa, nương bóng khổ trăm năm mãn cuộc, tự thanh cao, nếm mùi tự toại, dưỡng chí thanh nhàn thì có chi hơn. Vậy là mầu, vậy là trí.”

&

QUẺ 180:

Tiều tuỵ vô nhân vấn, lâm gian thính đỗ quyên,

Nhứt thanh sơn nguyệt địch, thiên lý lệ quyên quyên.

憔 悴 無 人 問 。林 間 聽 杜 鵑 。

一 聲 山 月 笛。千 里 淚 涓 涓

Dịch nghĩa:   Buồn không người đến hỏi han

Trong rừng quyên đã hót vang gợi sầu

Vẳng lên tiếng địch trăng thâu,

Dặm ngàn lả chả giọt châu ngắn dài.

Chú giải: quẻ này hợp với tâm trạng của người đang ưu tư, nhiều nghĩ nghị. Phải phấn đấu với tuồng đời. Đừng quá lao tâm mà bất lợi. Quẻ này ứng với lời dạy sau đây:

Ai có công thì hưởng phước, lòng đừng mơ ước uổng công. Muôn việc chi  phải trước đề phòng, hơ  hỏng  ắt  không thành việc. Giáng bút phân rành hơn thiệt, ai sớm biết liệu lo, sâu thì chống, cạn thì dò, đừng để cho đến đỗi giông tuông rồi gió thổi. Cũng trong một lúc nầy, xây chuyển lại chuyển xây cuộc đời thay đổi. Ta khuyên đừng có vội, ráng an lòng chờ đợi lịnh Trời. Tiếng nói chẳng phải chơi, nhiều lời ắt vương nên tội lỗi. Có tội thì sau sám hối, để lâu ngày thì tội không trừ, việc thiệt dám chê hư, dầu cho Đấng Đại Từ  không chế đặng. Đường ngay mực thẳng, phe đảng tan tành, lời thiệt phân rành, người tu chung hiệp. Chân thiện lo cần kíp, đừng để trễ ngày giờ, nếu biết luận Thiên cơ, đừng ngẩn ngơ chán ngán.”   

      Khuyên đừng chán ngán, ráng lo tròn,

 Ấy   mới   thật   là    trọn   nghĩa   con.

Thoả  thuận  cùng không  cơn rắc rối,

Vững bền  theo Đạo  mới  vuông tròn.

Đông dược

Không tìm thấy Feed

Tư vấn