Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 181 - Quẻ 210

QUẺ 181:

Lăng hà hương lý thụ thâm tư,

Quế phách viên thời ấn thụ tân,

Tòng thử uy danh sơn nhạc trọng,

Quang huy trực thượng vị ty luân.

凌 荷 香 裡 受 深 思。 桂 魄 圓 時 印 綬 新 。

從 此 威 名 山 岳 重。 光 輝 直 上 位 絲 綸。

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi và ngoài trời

 

Dịch nghĩa:  Ý tình sực nức hương sen,

Trăng tròn như ấn vua ban lần đầu,

Từ đây danh vọng cao sâu,

Chức quyền hiển đạt, sang giàu tuổi tên.

Chú giải: danh vọng đến như lời cầu ước, thành công cũng theo sau, tiếng tăm vang dội. Người cầu được quẻ này ứng hiệp, không còn gì hơn. Nhưng nên nhớ cái vui trong đời không đưa người về chốn thiên đàng mà cũng chỉ là phương tiện cho kiếp sống. Hãy luận theo đây:

Vị Tiên Thanh Tâm Tài Nữ giáng Cơ nói: “Trong cái kiếp duyên của chúng ta có cái kiếp ngộ đạo là hạnh phúc hơn hết và trọng hệ hơn hết, mà chính cái ngộ Đạo ấy, chúng ta có thể may duyên đến hội hiệp cùng Đại-Từ-Phụ, tức nhiên vào ngồi trong lòng của Đức Chí-Tôn vậy. Cái kiếp duyên cao trọng hơn hết là đấy. Bần-Đạo nói rõ. Mấy Bạn yêu ái của chúng ta đương ở trong lòng thương yêu vô tận của Đức Chí-Tôn nhập trong cái đại gia đình Thiêng Liêng của Ngài. Ngài đến nơi mặt địa cầu này là để cái dấu chơn của Ngài trên cái Cao-Đài này, đặng Ngài làm cái dấu hiệu cho toàn thể con cái của Ngài đã hữu duyên gặp đặng Ngài, đó là nơi hội hiệp của nó, nghĩa là chúng ta ngày hôm nay ngồi trong cái Đền Thánh này, tức nhiên trong một cái cơ thể tượng trưng lòng yêu ái vô tận của Đức Chí-Tôn, nó không phải tình cờ mà được vậy.

                                         .  &

QUẺ 182:

Hoa lạc chính phùng xuân, Hành nhân tại bán trình,

Sự thành hoàn bất tựu, tác bán lưỡng tam tuần.

花 落 正 逢 春。 行 人 在 半 程

 事 成 還 不 就  。索 絆 兩 三 旬

Dịch nghĩa:   Hoa rơi  giữa độ xuân,

Người đi được nửa chừng,

Việc thành chưa trọn vẹn,

Trở ngại đôi ba tuần..

Chú giải: Lời ứng nghiệm rõ ràng, trước chưa toại ý nhưng phải kiên nhẫn đợi chờ vì thời gian còn hoãn hoạt, trong lúc chờ đợi cũng nên nghe tiếng lòng mà điều chỉnh cái tâm cho chính chắn để khi được thì cả hai. Hãy nghe đây những lời này được ứng nghiệm cho thấu tình.

Đạo thì cứ thung dung  phăng từ gốc tới ngọn mà biện bạch, thế mới có ích cho nền Đạo và chẳng có mãnh lực Tà nào lấn lướt qua nỗi. Phải ráng sức thêm nữa thì phần kết quả xứng đáng họa may mới hiển hiện đặng. Đức Chí Tôn còn phải khiêm cung để dìu sanh chúng. Những kẻ nào đem quyền hành mà nâng mình lên cao thì kỳ thật quyền hành ấy phải vô dụng. Trong Đạo, nếu còn quyền hành áp chế thì là Đạo của Tà quái đó; mà những kẻ nào hay làm quyền riêng đó cũng chẳng tránh khỏi mãnh lực của Tà quái  xung  nhập. Chơn đạo chẳng dụng quyền áp chế bao giờ. Mấy anh  cũng đủ  rõ.

&

 

QUẺ 183:

Dục hành hoàn chỉ, bồi hồi bất dĩ,

Động dao mạc cưỡng, đắc chỉ thả chỉ.

   欲 行 還 止。 徘徊 不 已 。

動 搖 莫 強 。得 止 且 止。

Dịch nghĩa:  Muốn đi thoắt lại dừng,

Bối rối dạ không yên,

Gắng làm thêm tổn sức.

Ngừng lại lúc nên ngừng.

Chú giải: Tâm động báo điềm lo, chuyện lo cứ phải lo, báo dừng cũng nên dừng, nên dừng cho đúng lúc, cưỡng cầu càng phí lực, chỉ vô ích mà thôi. Đời nhiều nỗi lôi thôi, con tim chưa tự chủ, làm sao tính chuyện lâu dài ?.  

            Cũng như người làm Đạo có trách nhậm lớn lao, chẳng khác chi là làm màu mè bề ngoài trong một lúc, chớ tâm trung cũng chưa chắc phế hết những tánh phàm phu trọn được. Lửa lòng ham muốn của họ chẳng qua là bị lai rai vài hột mưa tro yếu đuối mà ướm tắt đó thôi, chớ cái ngòi cũng còn chui trốn nơi trong, một mai bắt được luồng gió thuận thì bảo sao chẳng lần hồi nhen nhúm lại như xưa. Những sự kích bác của mấy anh và một vài Đạo hữu có tâm chí khác, tất là đám mưa tro đó, thế nào tắt rụi đống lửa kia đã khởi cháy từ mới khai Đạo đến giờ. Phận sự mấy  anh nên lo tới nữa, chớ vội tin mà phế công phu nơi  ấy thì  sự  rối chẳng thế chi dứt  được.

&

QUẺ 184:

Tâm hạ sự an nhiên, châu tuyền thượng vị toàn,

Phùng long hoàn hữu cát, nhân nguyệt vĩnh đoàn viên.

心 下 事 安 然 。舟 旋 尚 未 全。

 逢 龍 還 有 吉。人 月 永 團 圓

Dịch nghĩa:  Tâm tình chưa được an nhiên,

Lại qua khó nỗi chu toàn trước sau

Điềm rồng tất được vượng cao

Ngày sau mở mắt công hầu tuổi tên.

Chú giải: Quẻ này trước có nhiều tư lự. Tư lự để được vững vàng hơn. Thánh nhân dạy: Tam tư nhi hậu hành, tức nhiên bảo cho phải suy nghĩ kỹ đôi ba lần mới thi hành không muộn. Như vị Thanh Tâm Tài Nữ làm như vầy là:

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,
Ai ơi đừng tưởng dễ như chơi.
Nghe danh tuy chất chồng bên gối,
Cổ Phật không duyên khó gặp người.

Bần Đạo nói thật: Mấy bạn nam cũng thế, nữ cũng thế, đương chung hiệp cùng nhau nơi đây, cái buổi hạnh phúc của chúng ta là buổi nầy “Bá Thiên vạn kiếp nan tạo ngộ” không phải dễ mà gặp. Ta đã gặp đặng tưởng chắc nếu chúng ta hiểu rõ giá trị của nó, thì cái kiếp duyên của chúng ta đây dầu có của phú hữu tại mặt địa cầu này, cái danh giá cao trọng như thế mấy, cái hạnh phúc giá trị sang trọng thế mấy cũng xa cái giá trị của kiếp duyên như Trời với vực”.

&

QUẺ 185;

Mộng lý thuyết quan san, ba thâm hạ điếu nan,

Lợi danh chung hữu vọng, mục hạ vị khai nhan.

夢 裏 說 關 山 。 波 深 下 釣 難。

利 名 終 有 望 。目 下 未 開 顏

Dịch nghĩa:  Mộng mơ bàn việc nước non,

Ngư ông còn ngại sóng dồn buông câu

Lợi danh như được sở cầu,

Ngày sau mở mặt công hầu đồn vang.

Chú giải:  làm người phải biết chữ nhàn làm quí, nhàn đây là nhàn  tâm nhàn trí, nào phải ngồi chơi xơi nước mà mặc cho kẻ hầu người hạ là hiểu sai rồi. Cái nhàn đạo đức khó tìm lắm, nhưng khi được nhàn rồi nào có khác người tục mà dựa được non Tiên. Có vậy mới tránh được cõi Âm quang mà chúng ta sắp được nghe thấy đây rồi:

Bát Nương Diêu Trì Cung (Giải thích về Âm quang): “Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các Chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy Chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy. Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu, thì kinh khủng chẳng cùng. Nếu để cho Chơn thần ô trược thì khó mong trở lại cõi thiêng liêng và về cùng Thầy đặng. Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng.Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các Chơn hồn, dầu sa đọa luân hồi, cũng có người giúp đỡ. Nghe lại coi có phải vậy chăng?”  

&

QUẺ 186;

Tam tiễn khai vân lộ, doanh cầu chỉ nhật thành,

Hứa đa nhàn khẩu ngữ. Phiên tác tiếu ca thanh.

三箭 開 雲 路 。營 求 指 日 成 。

許多 閑 口 語 。翻 作 笑 歌 聲。

Dịch nghĩa:  Đường mây thẳng hướng tên gieo

Thành công ắt sẽ ứng theo sở cầu

Chuyện người bàn tán xôn xao,

Trò cười thiên hạ ích vào điều chi.

Chú giải: có hướng lên rồi, chỉ cần gắng thêm nữa sẽ thịnh đạt. Thành công trong tay ta. Nền tảng đã vững cố xây đắp ngày dày thêm lớp đạo đức, không gì là không đạt. Quẻ này ứng vào lời của Đức Hộ-Pháp nói:

“Trong nước hiện giờ có các Đạo giáo thanh-liêm chánh-trực đang làm cha mẹ cho dân, có tinh-thần tạo hạnh phúc cho dân, một trang anh dũng biết bảo trọng nền quốc-túy, nâng đỡ nước nhà, biết tôn sùng Nhân Nghĩa. Chúng ta đã ngó thấy Đạo-giáo của chúng ta đem cái Nhơn-nghĩa làm huờn thuốc liệng vào tâm-lý của loài người là có thể trị đặng cái tinh thần bạo-ngược của họ.”

&

QUẺ 187:

Hưu xuân luyến, ngộ tiền trình,

Chung náo loạn,  Xuất môn đình.

休 春 戀 。誤 前 程 。終 鬧 亂 。出 門 庭。

Dịch nghĩa:  Thôi đừng lưu luyến tàn xuân,

Con đường trước mặt kẻo lầm tính toan

Sau cùng bối rối cưu mang,

Khéo gìn cẩn thận, cửa quan luỵ phiền.

Chú giải:  Cần nhứt là phải nghĩ suy cho chính chắn, chớ vội nghe người mà mắc, tin người quá mà lầm, mắc lầm những kế xảo mưu tà, có ăn năn cũng muộn. Có một nơi  ta gởi trọn con tim mà không lầm là Thượng Đế.

Đức Hộ-Pháp nói: “Muốn cho khỏi phụ lòng Chí Tôn thì ta phải đào luyện cho Đệ Nhị xác thân ấy đặng tinh khiết nhẹ nhàng. Muốn được vậy, ta chỉ có hai điều là: phải trai giới, chỉnh tu cho cái đệ nhị xác thân được tráng kiện hoạt bác, tùng khuôn viên thiện đức. Ðệ nhị xác thân ta khi còn sống ở quanh mình ta, bảo hộ về sanh quang tiếp với đệ tam xác thân là linh hồn. Khi lìa khỏi xác thúi hôi hữu hoại thì nó trực tiếp ngay với linh hồn nếu nó được thanh khiết. Bằng nó nghiệc ác thì nó phải dính líu với cái xác thúi hôi nầy mà phải chịu lìa xa cái linh hồn thì thần tử sẽ rước đi mà phải đọa là vậy. Bởi cớ Chí Tôn ban cho ta cái Bí Pháp (phép xác) cắt đứt dây oan nghiệt cho nó rời hẳn với đệ nhứt xác thân được khinh phù nhập một với linh hồn tức là hằng sống vậy.”

&

QỦE 188;

Vạn lý ba đào tĩnh, nhứt thiên phong nhàn, lợi danh vô trở cách, hành lộ xuất trùng quan.

萬 里 波 濤 靜 。一 天 風 閒。

    利 名 無 阻 隔  。行 路 出 重 關。

Dịch nghĩa:          Muôn dặm sóng triều an.

Trời cao gió nhẹ nhàng

Lợi danh đều hiển đạt

Đường dài vững bước chân.

Chú giải: Người trong thế giới này chơi vơi như chiếc thuyền nan lướt sóng. Nhưng vững tinh thần nhờ có đức tin ở quyền năng của Đấng vô hình.Cũng như Chơn-truyền từ trước đến nay Chí-Tôn để tại mặt thế trên các Đạo: Phật, Tiên, Thánh, là phương để gội rửa linh-hồn mà thôi.

           “Nhứt là Công-giáo có phép xưng tội là một bí pháp, nhưng ta không hiểu tại sao Chí-Tôn lại không truyền chơn-pháp. Ta nghĩ, có lẽ Đức Chúa Jésus-Christ đã ban quyền cho những đại-diện của Ngài tức là người cầm quyền Hội-Thánh có đủ năng-lực xá tội, nhưng trong hai đàng là kẻ xá tội và kẻ xưng tội; cũng có lẽ có người không thực tâm xưng tội, hoặc người không xứng đáng là ngừơi  xá tội. Nếu xét ra người đến xưng tội  và người xá tội cũng đều là phàm cả, chưa biết người này có xá tội được cho người kia chăng?  Thảng không đủ quyền tha tội càng thêm mang tội hơn nữa. Hễ có tội tức là có hình, có hình tức có phạt, có phạt phải thành án, mà án tiêu mới hết tội. Nên hễ có tội thì phải trả, mà có trả rồi thì hết tội”

                       .  (Đức-Hộ-Pháp 1-7 Mậu Tý 1948)

&

QUẺ 189:

Khát vọng mai, cơ hoạ bĩnh, mạn lao tâm,

Như tróc ảnh, ngộ hổ long, phương khả tỉnh

渴 望 梅。 飢 畫 秉 。漫 勞 心 。

如 捉 影。遇 虎 龍。 方 可 省。

Dịch nghĩa:  Khát lòng mong thấy được mơ,

Chỉ trông bánh vẽ dạ no đỡ thèm.

Phân vân như bắt bóng đêm,

Bây giờ giác ngộ gặp điềm hổ, long.

Chú giải: Có câu “Vân tòng long, phong tòng hổ” là  rồng theo mây, cọp theo gió. Tức nhiên mỗi thứ đều có sự hòa hiệp mà nương nhau. Khi con người đã đủ đầy vật chất thì lại càng thấy thiếu thốn tinh thần nên khát khao. Vậy người phải biết tinh thần hòa hiệp như thế nào để sống một cuộc sống bình-an từ tinh-thần đến thể-chất.

           “Vả chăng, có hòa mới có hiệp, có hiệp mới có định, mà hễ có định mới có an. Bằng chẳng như vậy sẽ có phản động. Hễ động tức nhiên phải loạn. Dầu cho chúng ta quan sát về đạo-lý-học, triết-lý-học, tâm-lý-học, cách trí-học,  ta thấy qủa quyết cả cơ quan Tạo-đoan hữu hình trước mắt ta, nếu không tùng khuôn luật điều hòa dám chắc càn khôn vũ-trụ này đã tiêu diệt ! Dầu cho về đạo lý học, ta ngó thấy khởi đầu nếu cái khối nguơn-linh của Đức-Chí-Tôn không hòa-hiệp với nguơn-âm của Phật Mẫu thì Thái-cực chưa ra tướng. Hễ Thái-cực chưa ra tướng tức nhiên càn khôn vũ-trụ này không có gì hết !            Chúng ta ngó thấy hành tàng taọ đoan trứơc mắt ta là sự điều-hòa trong thân thể.”

&

QUẺ 190;

Sự mê tâm bất mê, sự khoan tâm bất khoan,

Nhứt trường hoan hỉ hội, bất cửu xuất trùng quan.

事 迷 心 不 迷。事 寬 心 不 寬 。

一 場 歡 喜 會。不 久 出 重 關

Dịch nghĩa:  Dù việc lỗi lầm tâm vẫn an,

Lòng hay xét nét, việc thư nhàn.

Một lòng vui vẻ cùng sum họp,

Lại phải ra đi suốt dặm ngàn.

Chú giải:  Trong chữ MÊ  Thánh nhân đã dạy rành, gồm bộ sước là con đường đi và chữ mễ là gạo làm thức ăn, tức nhiên là vật chất. Như vậy người mà gọi là Mê là người chỉ biết hướng  theo vật chất,  tức nhiên quên

đi tinh thần. Nhưng nếu biết quan tâm đến tinh thần là biết giữ cơ hòa hiệp đó. Nếu luận “Về triết lý đạo giáo ta biết rằng: nếu ta không đoạt đặng 7 khối sanh quang thiêng liêng kia đặng tạo thành xác ta, thì xác thịt ta không có. Ta không sanh ở đây, nói gần hơn nữa nếu nhứt điểm tinh thần của cha ta không hiệp với huyết bổn của mẹ ta,  thì tức nhiên không có sự hiệp-hòa cả khuôn luật tạo đoan được. …Đạo Cao-Đài ngày nay là một nền tôn-giáo đem hòa khí cứu vãn tình thế.  Đức Hộ-Pháp đã nhắc nhở và căn dặn lưu tâm đến những lời chí thiết của Đức Chí-Tôn “Hễ một hành tàng nào của chúng ta làm cho tâm lý của con người phải rối loạn ly tán, ngỗ-nghịch tức nhiên phạm tội thiêng liêng” vậy .

&

QUẺ 191;

Dạ bán độ vô thuyền, kinh đào khủng phách thiên, Nguyệt tà vân đạm xứ, âm tín hữu nhân truyền.

夜 半 渡 無 船。 驚 掏 恐 拍 天 。

月 斜 雲 淡 處 。音 信 有 人 傳

Dịch nghĩa:  Qua sông vắng chuyến đò đêm,

Phập phòng lo sợ như điềm trời long.

Trăng tà mây nhạt bớt trong,

Tin thư truyền lại ước mong thoả tình.

Chú giải: Cuộc đời này nghĩ kỹ thấy nó khởi đầu do chữ tình  mà kết thúc cũng chữ tinh. Thế nên nhơn luân là đạo trọng. Đạo Cao Đài lấy nhơn đạo làm nền tảng phải khởi từ đạo vợ chồng.Cuộc hôn phối có ý nghĩa quan trọng lắm.

Thế nên Kinh Hôn Phối có câu:

                  Giữa Đền để một tấc thành,

                    “Đồng sanh, đồng tịch đã đành nương nhau.”

            Đây là do thành ngữ “Sống đồng tịch đồng sàng, chết đồng quan đồng quách” có nghĩa rằng chỉ về vợ chồng: khi sống thì cùng chăn chiếu (tịch là chiếu) cùng giường (sàng là giường). Chết thì cùng quan cùng quách. Câu đầu thì thực tế, nhưng câu sau là chỉ về ý mà thôi, chứ chưa ai cùng chôn chung một cỗ quan tài bao giờ. Có chăng là các vì vua ngày xưa có thực hiện điều này. Cả hai câu trên là nói tình nghĩa vợ chồng như keo sơn gắn bó, thân thiết không bao giờ xa lìa nhau.

&

QUẺ 192;

Sự nhược ki lưu, nhân bất xuất đầu,

Vãng lai bế tắc, yếu kiến vô.

事 若 羈 留 。人不出 頭 。往 來 閉 塞。要見 無。

Dịch nghĩa:

Nếu vì ngăn trở việc dừng ngang,

Người ngại ra đi được vững vàng

Qua lại không thông đường cách biệt

Khó lòng muôn việc được khang an.

Chú giải: Nếu ở đời có việc ngăn cách thì bế tắc. Đạo pháp bị ngăn trở thì nhân sanh điêu đứng, loạn gia, loạn quốc ấy là vì trong tâm thiếu vắng đạo đức làm nền.

 Từ xưa đến giờ “Ai sanh ra dưới thế này cũng phải giữ đủ Tôn-chỉ của ba Đạo: Nhơn-Đạo, Tiên-Đạo và Phật-Đạo mới làm đặng hoàn-toàn phận-sự con người. Tỷ như Nhơn-đạo thì dạy mình vẹn giữ Tam cang Ngũ thường mới biết bổn-phận mình đối với xã-hội nhơn-quần thế nào cho nhơn-loại cộng hưởng hòa-bình, chẳng nghịch lẫn nhau mà phải trái hẳn với đức háo-sanh của Thượng-đế.           Muốn cho nhơn-loại đặng lòng hữu-ái mà kính mến lẫn nhau thì Tiên-Đạo lại dạy ta phải lão-luyện tinh-thần cho đặng thông-minh trí-hóa hầu kiếm phương giúp đỡ bênh vực lẫn nhau.”

&

QUẺ 193;

Vạn lý phiến phàm chuyển, ba bình lãng bất kinh, Hàng hàng vô trở trệ, viễn xứ cành thông tân.

萬 里 片 帆 轉 。波 平 浪 不 驚 。

行 行 無 阻 滯 。遠 處 更 通 津。

Dịch nghĩa:  Lênh đênh một cánh buồm xa,

Sóng triều yên lặng, gió hoà, dòng xuôi

Êm êm thuyền nhẹ cứ trôi

Phương xa bến phẳng làm nơi đỗ thuyền.

Chú giải:  Người đi trên sóng nước mong được thuận buồm xuôi gió. Cảnh sống thì muốn sóng lặng gió êm, không ai muốn điều trở ngại, được vậy là phước ba đời. Nhưng đừng quên rằng thế thái nhân tình nhiều người còn đố kỵ, phải thấy rõ để trở xoay, như tay  vững lái thuyền.

            Đừng tưởng rẻ, bởi nó xô đẩy loài người trong trường chiến và sẽ có cơ quan tàn diệt nhau không dứt, không cứu chữa đặng thì chúng ta sẽ là tội nhơn đệ nhất của nhơn loại vậy”. Thi văn dạy Đạo:

Anh-tài chưa biết dựa quyền người.

Còn nói chi chi bổn phận ngươi ?

Tranh đấu cuộc đời là huyết chiến 

Nhứt nhơn chịu khổ chịu người cười

&

QUẺ 194:

Thân lịch kinh đào,   đông phong tiện hảo,

Thái bình thân thoái,   mục hạ hoàn tảo.

身 歷 驚 濤 。東風 便 好 。

太 平 身 退 。目 下 還 早。

Dịch nghĩa:  Trải thân mấy lớp sóng cuồng

Gió đông còn chút lòng thương thấu tình

Đất bằng thẳng tiến nương mình,

Bây giờ tâm chí an nhiên vui cười..

Chú giải:  Người sống vững nhờ đức tin làm nền tảng. Trời đất làm nên luật điều hòa cho vũ trụ. Nhân loại đặt hết niềm tin tưởng, nhờ đó mà nông gia sinh hoạt theo thời tiết. Dù không nói nhưng chữ TÍN của trời to vậy. Mạnh Tử, ông quan-niệm người có bốn đức mà thôi; đó là: Nhân, nghĩa, Lễ, Trí để hợp với bốn đức cuả Trời là: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Dù nói bốn đức nhưng thật ra đức TÍN đã ẩn tàng trong mỗi đức kia rồi; vì Nhân cũng phải có tín, Nghĩa cũng phải có tín, Lễ và Trí cũng phải như vậy. Đứng vào Ngũ-hành thì Tín đứng vào trung-ương Mồ, Kỷ, Thổ. TÍN là sự tin-tưởng hợp bởi bộ nhân (2nét) và chữ ngôn (ngôn là lời nói có 7 nét, là chỉ cái miệng). Bởi trên gương mặt người cái miệng đứng vào hàng thứ 7 (2 mắt, 2 mũi, 2 tai, 1 miệng) đó là 7 khiếu dương trên mặt, cũng là thất khiếu sanh quang, ngày xưa Phật độ sanh mà không độ tử, độ nam mà không độ nữ, cho nên mới có tuần thất ( 7 x 7= 49 ngày). Còn ngày nay Chí-Tôn mở Đạo là độ cả xác lẫn hồn, độ cả nam lẫn nữ, nghĩa là dùng đến con số 9 (tức là sử dụng cả số âm và dương: 7 khiếu dương ở trên mặt và 2 khiếu âm ở hạ bộ cọng chung là 9 khiếu (9 x 9= 81) cho nên mới có tuần cửu; tượng trưng 9 khiếu ở trong người, cửu khíêu khai thông trần cảnh tuyệt  là hình ảnh của người tu đắc Đạo là vậy. Thế nên, chữ TÍN là tiếng nói phát tự trong tâm hồn, vang khắp trong càn khôn vũ-trụ có ảnh-hưởng đến sự thịnh suy bĩ thái trong thế giới lòai người; vì vậy lời nói có một tầm quan  trọng trong đời sống của con người lắm vậy

&

QUẺ 195;

Hạc tự vân trung xuất, nhân tòng nguyệt hạ qui.

Tân hoan doanh kiểm thượng, bất dụng trướu song mi.

鶴 自 雲 中 出。 人 從 月 下 歸 。

新 歡 盈 臉 上。 不 用 皺 雙 眉。

Dịch nghĩa:  Trong mây cánh hạc vút ngàn,

Người theo trăng sáng quày chân về nhà.

Hây hây đôi má vui hoà,

Mày chau tan biến, nét hoa dịu dàng.

Chú giải: Sự hài hòa trong lòng giúp an vui cho cuộc sống. Cuộc sống thanh cao được biểu tượng là chim hạc. Hạc được coi là chim linh, thích trời cao đất rộng mà không cần tích trữ cho nhiều. Hạc chỉ con người đạo đức cao thượng. khác với gà là con vật chỉ biết lo cho no bụng mà chẳng bao giờ biết đủ, nồi nước sôi chờ sẵn  bên mình .

Hạc là giống chim lớn, chân cao, cổ dài, lông trắng, bay rất nhanh, dáng thanh nhã, sống đến ngàn năm, thường được các vị Tiên dùng làm phương tiện để du hành đây đó. Chim Hạc còn được đắp hình đứng trên lưng con Qui (rùa) để thờ nơi đình miếu. Có câu:

Thương thay thân phận con rùa,

Nơi đình đội Hạc, nơi chùa đội bia.

 Chim Hạc còn được ví với sự phóng khóang tự do như câu “Hạc nội mây ngàn”. Thánh ngôn Hiệp tuyển quyển II Đức Lý có dạy:

                        “Lung kê hữu mễ thang oa cận,

           “Dã Hạc vô lương thiên địa khoan”

Nghĩa là: Gà lồng có lúa ăn hằng ngày, mà nồi nước sôi cận kề, không biết phải bị giết lúc nào. Chim Hạc ở đồng nội, tuy bữa đói bữa no, nhưng trời đất bao la mặc tình bay lượn. Bấy nhiêu đó cũng cho người một ý niệm sống có hai hướng rõ ràng: kẻ đạo đức thư nhàn, người cần lao khổ nhọc. Rốt lại còn gì?  

&

QUẺ 196;

Thâm đàm ngư bất điếu, u cốc điểu khả la,

Chỉ dụng cửu trường tâm, bất dụng sinh nghi hoặc.

深 潭 魚 不 釣 。幽 谷 鳥 可 羅

只 用 久 長 心 。不 用 生 疑 惑

Dịch nghĩa:   Đầm sâu khó được cá to,

Chim trời dễ đặt lưới dò trong hang

Chỉ cần tâm ý vững vàng

Ngại lòng ngờ vực khó đương cuộc cờ.

Chú giải: Đầm sâu khó câu cá, chim trời còn lưới rập. Nhưng đối với người lòng dạ vốn khó lường. Khi vui, lúc buồn thường thái quá. Có thể vì người ghét cũng dám xuống tay, có thể vì người thương mà liều thác.

Trường hợp Bà Nữ Đầu sư Hương Hiếu một năm chịu ba cái tang: tang chồng Đức Cao Quỳnh Cư, tang mẹ ruột, tang con là Cao Quỳnh An du học bên Pháp chết. Hầu như Bà không còn thiết sống. Đức Chí-Tôn giáng Cơ an ủi, gợi chuyện làm đường.     

     Thầy nói: “Hiếu, con nghe Thầy nói chuyện làm đường cát trắng, con !  (Hiếu bạch: Bạch Thầy con không biết)   

           - Đổ đường đen vào một cái hủ thọc lủng đít, rồi định chừng cho vừa hai phần hủ đường, còn một phần hủ thì đổ bùn non cho tới miệng, đem phơi nắng chừng một tuần thì đường trở nên trắng, gạt lớp bùn đi thì con đặng một thứ đường trắng phau-phau rất ngon, rất đẹp đó con. Cái khổ hạnh cuả con giống như đường đó, con à! Con có biết Thầy khóc như con vậy chăng con? Nếu con không vậy, làm sao đáng con cái của Thầy. Con chỉ nhớ rằng Thầy thương con là đủ. Đặng thế gian yêu mến ắt Thầy  phải ghét, mà Thầy ghét con thì còn chi con, con khá nhớ

QUẺ 197;

Tấn bất an, thoái bất khả, thượng hạ tương tòng,

minh châu nhứt khoả.

進 不 安 退 不 可 。上 下 相 從 。明 珠 一 顆

Dịch nghĩa:  Khó lòng tiến bước xa hơn,

Muốn lùi không dễ và còn đắn đo,

Dưới trên tâm ý thuận hoà,

Minh châu một hột báu nhà hân hoan.

Chú giải: Không tiến thoái được là bất thông, là bế tắc. Điềm không lành. Người chiếm quẻ này nên thận trọng và kiên nhẫn vì trước khó sau dễ cũng là thời vận mà thôi. Khi đã tuyệt đỉnh văn minh như Âu châu mà giờ gặp nguy khó cũng là thời trời vậy. Con đường để giải khó chỉ là làm thuận với lòng trời.

Luận xét đến các nước ở Âu-châu, ở Á-châu, đồng tìm chánh sách vạch triết lý ấy và đương họat động cho lòai người hiệp nhau làm một. Bởi lý do đó các nhà thượng đẳng nhơn sanh chia nền chánh trị ra mỗi quốc gia, dụng tâm lý chia đều quyền lợi cố ý tìm cách thống nhứt cả lòai người làm một trong đường sanh họat mà thôi, ấy là nước Mỹ đang thi thố hiện thời; còn nước Nga lại chia phân tài sản, dung-hòa tâm lý tạo cho lòai người một phẩm-giá; một quyền lực đồng nhau. Phương pháp ấy khó đọat thành nguyện vọng.

&

QUẺ 198;

Trước trước thượng tiên cơ, kỳ trung lộ bất mê,

Mục tiền vô hợp ý, Sạ miễn thị hoà phi.

著 著 上 先 機 。其 中 路 不 迷 。

目 前 無 合 意 。乍 免 是 和 非

Dịch nghĩa:  Dần dần chiếm được điểm đầu

Mọi đường suông sẻ dễ đâu mê lầm

Dù rằng tình ý phân vân,

Mọi điều phải trái chẳng can hệ gì.

Chú giải: Thành công đến một cách dễ dàng phải nghĩ rằng phúc đức nhiều đời để lại. Nhưng vừa hưởng phải vừa vun quén “Phúc bất hưởng tận” là vậy. Luôn giữ đức khiêm nhường, từ tốn để cân bằng trong lý sống lâu bền.

Thầy còn dạy rằng:  “Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ-nhoi mà là quyền thế, các con nhịn nhục mà các con trách phạt; cử chỉ các con khá lập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình, thì là gần ngôi Tiên Phật đó!

&

QUẺ 199;

Chuy táo cao chi thượng, hành nhân cổ độ đầu,

Bình đồ bất liễu sự, nhựt mộ chuyển sinh sầu.

   隹 噪 高 枝 上。行 人 古 渡 頭 。

平 途 不 了 事。 日 暮 轉 生 愁。

Dịch nghĩa:  Trên cành chim đã hót vang,

Khách đường ghé bước đò làng bến xưa,

Đường ngay, việc đến muộn chưa!

Bóng chiều vàng vọt, nắng chiều buồn tênh.

Chú giải: Lòng ngay thẳng, đạo đức cao. Tâm con người phải tùng theo đường đạo để cuộc sống được hài hòa. Hãy tìm cho biết rõ: Chơn luật hay vấn-đề đoạt Đạo là luật chơn chánh và cần yếu nhất là sự Thương yêu: Chơn luật thể hiện ở hai điều kiện LUẬT và  QUYỀN:

             1-Luật Thương-yêu: Ngài định luật cho chúng ta là luật Thương-yêu; không phải thương-yêu nhân-loại mà thôi, mà phải thương-yêu toàn cả  vạn-linh nữa.

             2-Về Quyền: Ngài chỉ định là quyền Công Chánh. Đó là nội dung của bản Hòa-ước kỳ ba với Đức Chí-Tôn  mà nhân loại phải thực thi đó vậy. Từ thử, ta chưa thấy cái Hòa-ước nào đơn-sơ như thế ấy, mà nó oai quyền làm sao! Bởi từ khi có loài người đến giờ LUẬT THƯƠNG-YÊU không xa rời trong tâm tưởng của con người. Hỏi cha mẹ trong gia-đình trị con cái bằng bộ luật nào, nếu không phải luật Thương-yêu? Nếu không nhờ luật Thương-yêu thì Đức Phật Thích-Ca không lập giáo được, cho chí đến các tôn-giáo trên hoàn cầu cũng vậy.

&

QUẺ 200;

Tạc thạch đắc ngọc, đào sa đắc châu,

Nhãn tiền mục hạ, hà dụng trù trừ.

鑿 石 得 玉 。淘 沙 得 珠 。

眼 前 目 下。 何 用 躊 躇。

Dịch nghĩa:   Ngọc còn ẩn đá đẽo ra,

Châu nằm lẫn cát bới đào được ngay.

Khéo nhìn phân biệt đúng sai,

Phân vân ắt khó lộc tài vẻ vang.

Chú giải:  Người thợ ngọc phải tu học nghề nghiệp cho chuyên mới gọi là chuyên nghiệp. Người đạo đức muốn có ngôi cao phẩm quí phải biết tu hành. Công khó như nhau, là phải biệt phân ngọc đá vàng thau thường lẫn lộn. Đây:           

            Dầu hồi buổi chưa tu, chúng ta đã chán thấy sự hay dở của Ngũ-chi Đại-Đạo là thế nào và cũng thấu rõ lẽ chánh tà của kẻ cầm quyền hành Đạo. Chẳng cần để luận những chi Tả-đạo bàn môn, dầu chánh-pháp chơn truyền, mà đời chế giảm sửa đương cũng đã thành phàm giáo.

             Ta đã lãnh vai làm chủ khảo thì buộc: 

             -    Mắt của ta phải xét cho chánh,

             -    Miệng ta phải nói cho chánh,

             -    Thân ta phải làm cho chánh,

             -    Trí ta phải định cho chánh,

             -    Tâm ta phải giữ cho chánh;

 Có như vậy thì mới đủ quyền hành cầm cân Công bình thiêng-liêng thưởng phạt, hiệp tâm lý đặng qui nguyên phục nhứt”

&

QUẺ 201;

Vô đoan phong vũ thôi xuân khứ,

Lạc tận chi đầu đào lý hoa,

Đào bạn hữu nhân ca thả tiếu.

Tri quân tâm sự loạn như ma.

 無 端 風 雨 催 春 去 。落 盡 枝 頭 桃 李 花 。

桃伴 有 人 歌 且 笑。 知 君 心 事 亂 如 麻。

Dịch nghĩa:  Vô tình mưa gió giục xuân qua

Đào lý theo xuân tan tác hoa

Có kẻ bờ đào cười lại hát,

Rằng: “chàng, tâm sự khó bày ra”.

Chú giải: Tâm sự người khó bày ra vì còn nhiều nghĩ nghị, bấy nhiêu cũng làm cho bậc Chí-Tôn khổ công đến độ dẫn con cái của Người. Phải tìm phương hay kế diệu để kêu gọi con về. Ấy là lúc mà Đại-Từ-Phụ còn giao nơi tay chúng ta những phần thưởng hữu hình và quyền lực Thiêng-liêng của Thầy đã sẵn-sàng dành để mà nhủ rằng:

           “Của cải này đủ thế lực cám-dỗ nhơn-sanh qui hồi bổn thiện. Thừa tánh tham của phù du thế tục, các con trao phẩm vị Thiêng-liêng. Do tâm dữ tranh quyền lộc công danh, các con đổi Chí-linh bổn thiện. Cơ-quan cứu khổ chúng sanh cũng do nơi đó”

&

QUẺ 202;

Nhàn uyển nhất thời xuân. Đình tiền hoa liễu tân. Thanh truyền hảo tin tức, thảo thuỷ tận hân hân.

閒 苑 一 時 春 。庭 前 花 柳 新 。

聲 傳 好 信 息 。草 水 盡 欣 欣

Dịch nghĩa:  Vườn uyển đương xuân cảnh trí nhàn

Kiểng hoa tươi mới sắc hân hoan

Lời rằng đã có tin mừng đến,

Cây cỏ thắm nhuần khí tượng an.

Chú giải: nhân nói “vườn uyển đương xuân” ở trần tươi đẹp, làm cho người hân hoan. Đây xin nhắc cõi Trời có Vườn Ngạn Uyển là vườn trồng hoa trên cảnh Thiêng liêng Hằng Sống. Mỗi sắc hoa là một Chơn hồn của những kẻ nguyên nhân, Nhứt Nương Diêu Trì Cung chăm sóc, còn gọi là Ngạn-Uyển Chưởng Hồn.

Đức Hộ-Pháp nói về Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống: “Có tánh tọc-mạch nghe nói nơi Diêu-Trì-Cung có Vườn Ngạn-Uyển mà Vườn Ngạn-Uyển ấy ra sao? Trong Kinh luật có nói mỗi mạng sanh con người đều có hiện tượng một bông nở trong Vườn Ngạn-Uyển, mỗi khi bông ấy héo rụng tức nhiên là có một người chết, tại thế này gọi là chết chớ không phải chết. Loài người không bao giờ chết cả, chết ấy là chúng ta thay một cái áo để ngoài, vào nhà tắm, tắm rồi ta mặc lại nữa, sự sống chết như thay đổi cái áo kia vậy thôi. Trước mắt chúng ta, hiện-tượng hào quang chiếu diệu một vườn hoa, đẹp-đẽ đủ màu, vườn hoa ở cảnh Thiêng-Liêng ấy không phải như vườn hoa ở thế gian này đâu. Bông hoa Thiêng-Liêng ấy sẽ sống một triệu lần, do nơi quyền-năng biến hóa của nó và nó sẽ hiện tượng biến hóa trước mặt ta vô cùng tận vậy. Bởi vì nó thay đổi màu sắc rực-rỡ vô biên, cho nên mỗi phen kiếp sanh tại thế này, đường tấn hóa trên con đường trí-thức tinh thần, mỗi khi nhơn loại tấn triển lên thì Vườn Ngạn Uyển nó sẽ đổi hình đổi tướng một cách đẹp-đẽ vô ngần”.

Nhứt Nương Diêu-Trì-Cung nói: “Phận sự Ngạn Uyển Chưởng Hồn không giờ nào rảnh rang đặng đến mà trò chuyện cùng mấy Anh cho thoả tình hoài vọng. Hộ Pháp hỏi: Đâu em cắt nghĩa dùm Ngạn-Uyển Chưởng Hồn là sao cho Qua rõ ?- Dạ ! Ngạn-Uyển Chưởng Hồn là vườn Ngạn Uyển trồng hoa. Mỗi sắc hoa là một Chơn hồn của cả kẻ nguyên nhân: thạnh suy, thăng đoạ chi cũng do nơi  khối sanh hoa, khí ấy định sanh mạng của mỗi người, nên phải chăm nom từ buổi. Em không rảnh đặng là vì vậy.” Nhứt Nương có nhiệm vụ cai quản Vườn Ngạn Uyển nơi từng Trời thứ nhứt trong Cửu Trùng Thiên, xem xét các Nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui vị, vì mỗi đóa hoa trong Vườn Ngạn Uyển tượng trưng một Nguyên nhân. Khi Chơn linh Nguyên nhân ấy đầu kiếp xuống trần thì hoa nở, nếu làm điều thiện lương chơn chánh thì sắc hoa tươi thắm, nếu Chơn linh làm điều tà mị gian ác thì sắc hoa ủ dột xấu xí. Đến khi Chơn linh qui vị, tức xác thân sắp rời khỏi cõi trần thì báo hiệu bằng một đóa hoa héo tàn. Bửu pháp của Nhứt Nương Diêu-Trì Cung là Đờn Tỳ Bà”. Cửu Vị Tiên  giáng ngày 15-8-Bính Tuất (dl 9-9-1946): Thì đây là bài của Nhứt Nương Diêu-Trì-Cung nói lên nhiệm vụ của chính mình:

Nhẫng ngồi giữ Huỳnh hoa Ngạn Uyển,
Mà quên nghe đặng tiếng vĩnh sanh.
Dọn đường lều cỏ chòi tranh,
Tay nương con gậy một mình trông vơi.

&

QUẺ 203:

Môn ngoại sự trùng điệp, âm nhân đa ngộ hợp,

Hiền nữ tuy trợ xảo, Diểu diểu chung nan hợp.

門 外 事 重 疊 。陰 人 多 遇 合 。

賢 女 雖 助 巧。渺 渺 終 難 合。

Dịch nghĩa:   Bên ngoài việc quá bộn bề,

Hẳn người khuất mặt hiện về đâu đây

Gái hiền tuy khéo mỹ miều,

Chung cùng khó toại những điều ước mơ.

Chú giải: Đây nói về âm dương ngăn cách là việc thế tình. Nhưng việc trời đất cũng có sự ngăn cách, nên từ xưa đến giờ nhân loại chưa bao giờ được một lần biết danh Trời. Nay, Đức Hộ-Pháp có nói: “Vậy thì Đại-Từ-Phụ đến khai Tam-kỳ Phổ-độ có đem theo một gia nghiệp Thiêng-liêng xuống thế, rồi nắm tay các Lương-sanh mà dắt đến một nơi vinh-diệu lại bảo rằng: Các con phải leo cho thấu trên chót Đài Cao này cùng Thầy đặng xem tòan thể của địa hòan, ngó cho chường, suy cho quyết, rồi chung tâm hiệp trí cùng Thầy lo liệu bề chuyển thế”

&

QUẺ 204;

Sự hữu hỉ, diện hữu quang, chung thuỷ hảo thương lượng, Hồ trung nhựt nguyệt trường.

事 有 喜 面 有 光。 終 始 好 商 量。壺 中 日 月 長

Dịch nghĩa: Việc may dạ khá mừng. Mặt lộ nét hoan hân

     Sau cùng đều vẹn vẻ. Ngày tháng mặc xa gần.

Chú giải:  mừng vui ghét giận là chuyện thế nhân. Nhưng mỗi người mỗi vẻ mà nó mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Hãy nghe ông Thiệu-Khang-Tiết  chia làm ba hạng người:

        - Bậc thượng-phẩm không dạy mà được THIỆN

        - Bậc trung-phẩm có dạy rồi mới được THIỆN

        - Bậc  hạ-phẩm dù có dạy cũng không THIỆN

-Không dạy mà Thiện nếu không là THÁNH thì còn gì ?

-Dạy rồi mới được Thiện nếu không HIỀN thì còn là gì?

-Kẻ có dạy mà cũng không Thiện, gọi  NGU chớ còn gì ?

cái trí hóa của người đời có cao, có thấp, không đều nhau, vì vậy Đức Thượng-Đế mới mở ra nhiều mối Đạo khắp nơi trên địa-cầu này để tùy theo trình độ mỗi hàng phẩm mà dẫn dắt lên con đường cao thượng hơn.

           Đạo Cao-Đài, Đức Chí-Tôn có phân rõ ba bậc:

- Nguyên-nhân là khi khai thiên rồi đã có chơn linh người,

- Hóa-nhân là từ cầm thú đã tiến hóa lên người,

- Quỉ nhân là do từ hai phẩm trên bị tội mà đày vào quỉ vị.

&

QUẺ 205;

Ám khứ hữu minh lai, ưu tâm sự khả hài, chung tu thành nhất tiếu, mục hạ mạc nghi sai.

暗 去 有 明 來。 憂 心 事 可 諧 。

終 須 成 一 笑。目 下 莫 疑 猜

Dịch nghĩa:   Đi buồn về được hiển vinh,

Tâm hồn lo ngại, sự tình đạt thông.

Vui cười chung cuộc thoả lòng,

Không còn ngờ vực bớt phòng điều sai.

Chú giải:  Chính cái thất tình của con người đã đóng một

vai trò quan trọng, chẳng những chuyện buồn, vui, họa, phúc mà thôi; mà nó còn định cho sự đọa thăng luân hồi.          

Thầy than: “Mỗi phen Thầy đến lập Đạo thì phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghịêt bấy nhiêu Thầy đều lãnh hết. Các con đặng thong-dong rỗi-rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật gây thêm tội-lỗi nữa, thật là đáng giận. Thầy chẳng biết bây giờ đây Thầy phải bỏ Đạo, liều đọa với các con  hay là đợi cho Đạo bỏ Thầy đó các con. Cắt ruột ai lại không đau ! Nếu Thầy không cầu khẩn Thái-Bạch đình hình phạt lại cho tới ngày lập thành Tòa-Thánh, các con lấy công mà chuộc tội, thì trong các con chẳng đặng còn lại một phần mười, các con nên lấy lời răn Thầy đây làm vị thuốc khử tội của các con, phải sợ mạng lịnh Thái-Bạch. Thầy nhắc cho các con một phen nữa”                                                          

&

QUẺ 206;

Bảo kính vô trần nhiễm, kim điêu dĩ tiễn tài, d

Dã phùng thiên ý hợp, chung bất nhạ trần ai.

寶 鏡 無 塵 染。 金 貂 已 剪 裁 。

也 逢 天 意 合。終 不 惹 塵 埃。

Dịch nghĩa:  Gương báu gìn trau khỏi bụi mờ

Điêu vàng giữ kín dám thờ ơ

Âu là Trời đã ngầm giao phó

Báu vật trong tay khỏi bợn nhơ.

Chú giải:   Gương báu của người là tinh thần đạo đức của mỗi người. Ngày nay người đến trần lo tu hành là tắm rửa hồn trong, chính là lau bụi trên mặt gương chứ không phải lau  gương. Có nghĩa là mỗi người đều là tấm gương rồi mà để lâu ngày bị mờ đi, hoặc nhiều hoặc ít, bây giờ lau bụi trên mặt gương ấy để không bị mờ, chứ không ai có khả năng lau một tấm ván cho thành gương trong được. Nói thế, người mà biết tu hành đều là nguyên căn xuống

trần mới biết trau tria đạo hạnh. Đức Thượng Đế than dài:

 “Ôi, thảm thay ! Thảm thay ! Các mối Đạo Thầy đã liều thân lập thành đều vào tay Chúa Quỉ hết, nó mê họăc các con. Nhiều bậc Thiên Tiên còn đọa; huống lựa là các chơn thần khác của Thầy đương nắn đúc thế nào thóat khỏi. Thầy đã chẳng trách phạt Kim-Quan-sứ lẽ nào lại trách phạt các con, song hình phạt của Thiên-điều, dầu chính mình Thầy cũng khó tránh. Các con tự lập hình phạt cho các con, cũng như Thiên-điều mà Thần, Thánh, Tiên, Phật lập thành đó vậy. Thầy đã cho kẻ thù Thầy đặng hưởng ân-điển của Thầy lẽ nào truất bỏ phần của các con, song tại các con từ chối, đáng thương mà cũng đáng ghét’          

&

QUẺ 207:

Hoà hợp sự, tiếu đàm thành,

Hỉ âm tại bán trình. Bình bộ đạp thanh vân.

和 合 事 笑 談 成。

喜 音 在 半 程 。平 步 踏 青 雲

Dịch nghĩa:     Việc nên nhờ  được hoà đồng

Vui cười vì đã thành công sẵn rồi

Tin may chợt đến nửa vời.

Đất bằng thẳng bước đến nơi mây lành.

Chú giải: quẻ này ứng điềm lành làm cho người chiếm quẻ lắm hài hòa, thỏa vọng cầu mong. Hãy tiếp tục đi trọn con đường đạo đức đã sẵn có để làm vui lòng Thượng Đế.  

Thầy dạy: “Các con ôi ! Đã gọi là Đấng câm cân, lẽ công bình thiêng liêng đâu mà Thầy đặng phép tư vị, Thầy lấy lẽ công-bình thì tức nhiên phải chiếu theo Thiên điều, mà chiếu theo thiên-điều thì là con cái Thầy tức là các con phải chịu trầm luân đời đời kiếp kiếp. Các con phải ngồi nơi địa vị Thầy thì các con thế nào!  Mỗi phen Thầy đau thảm khóc-lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí-tôn xuống lập Đạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẽ, xua đuổi, bắt buộc đến nỗi phải chịu cho các con giết chết.”

&

QUẺ 208:

Hoa tàn nguyệt khuyết, kính phá thoa phân,

Hưu lai hưu vãng, sự thuỷ an ninh.

花 殘 月 缺。 鏡 破 釵 分 。

休 來 休 往。 事 始 安 寧。

Dịch nghĩa:  Hoa tàn theo lúc trăng vơi,

Kính đà tan vỡ,  trăm rời tóc mây

Lại qua kịp lúc dừng ngay,

Về sau công việc được hài lòng hơn.

Chú giải:  Việc buổi đầu nhiều khó khăn chớ ngại, đời mà đôi khi khó liệu trước. Khi đã được hạnh phúc nắm trong tay cũng đừng khinh suất. Nhớ rằng cuộc đời này, vũ trụ này đều nằm trong vòng tay của Đức Thượng Đế hết

Đức Thượng-Đế nói:“Cầm cả quyền hành vô lượng nơi tay, Thầy ngó một cái cũng đủ tiêu-diệt nó đặng, nhưng mà phép Công bình thiêng liêng chẳng phải nên vậy !” Thầy dạy rằng: “Các con ôi ! Thầy hỏi vậy chớ mỗi phen độ rỗi cho đặng các con, các con có biết Thầy chịu khổ-não dường nào chăng? Quyền hành Chí-Tôn của Thầy, các con nếu hiểu thấu thì các con sẽ thấy nó là một hình phạt rất nặng-nề, chẳng khác nào như  gông với tróng. Thầy lập nhơn lọai là giòng-giống các con, chỉ tưởng rằng ban đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật nơi cõi thế-giới càn-khôn, đặng làm cho rõ Thánh-chất mạnh mẽ hơn phàm chất, nào dè còn lại đặng chẳng đủ một phần triệu Đấng, thì thế nào Thầy không đau lòng cho đặng ? Thầy chưa bao giờ biết hình phạt các con bao giờ. Từ khai thiên Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một ông cha nhân-từ thế quá lẽ làm cho đến đỗi các con khinh khi, phản-nghịch lại cũng như Kim-Quan-sứ là A-tu-la, Thánh-giáo gọi là Lucifer phản-nghịch, náo động Thiên-cung. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn-nàn trách cứ Thầy thay !”      

&

QUẺ 209:

Môn ngoại hảo âm lai , sinh nhai ưng hữu khánh,

Danh lợi hữu cánh thiên, nhạn hành chung chiết trận.

門 外 好 音 來 。生 涯 應 有 慶 。

名 利 有 更 遷 。 雁 行 終 折 陣

Dịch nghĩa:  Tin vui vừa đến cổng ngoài

Sinh nhai tất được ấm no vẹn phần

Lợi danh dời đổi đôi lần,

Chân trời cánh nhạn lìa đàn kêu sương.

Chú giải:  người có tâm thiện, biết hành thiện thì việc thiện đến. Ngược lại làm việc ác thì sự ác trả ngay . “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Chỉ duy lai tảo dữ lai trì” Thật vậy làm thiện có thiện trả, làm ác có ác báo, chỉ có điều là nó đến sớm hoặc muộm mà thôi.        

            Duy tìm biết chữ THIỆN phải như thế nào đây? Ngòai cái nghĩa Thiện là Hiền lành ra, còn có nghĩa là phụng-sự, là hy-sinh nữa. Bởi chữ Thiện được cấu tạo trên là chữ Dương là con dê, là một trong ba con vật chịu hy-sinh để cúng tế trời đất, quỉ thần ngày xưa (trâu, dê, heo gọi là Tam sanh) tức là khi làm được việc lành thì tay múa miệng reo (dưới cùng là chữ khẩu khẩu là miệng)..                                                                                    

Dân Việt-Nam là một dân-tộc đầy đủ tinh-thần hy sinh, bất-khuất, đã chịu đựng biết bao thời kỳ nô-lệ, đã rèn đúc thành một tâm hồn rắn chắc; đức hy-sinh, kiên-nhẫn và thiện chí có thừa với một tâm hồn đạo-đức cao độ.            Cái báu vật đã thọ hưởng từ đời ông cha ta để lại biết bao đời, hôm nay đàn con cháu sẽ đời đời truyền nối cái tinh thần cao-khiết ấy.                              

&

QUẺ 210:

Vạn lý hảo giang san, phong sa tận nhựt nhàn,

Dĩ thôn điếu thượng nhĩ, hà tất ngộ ba lan.

萬 里 好 江 山 。風 沙 盡 日 閒 。

已 吞 釣 上 鉺 。何 必 遇 波 瀾.

 

Dịch nghĩa:  Nước non ngàn dặm tốt tươi,

Ngày nhàn gió cát như nguôi dạ sầu

Mồi ngon cá đã cắn câu,

Nghĩ chi sóng gió giờ sau cũng thành

Chú giải:  con cá cắn câu tức là ngậm được mồi cũng như người tìm được Đạo. Nhưng giữa cá và người khác nhau xa. Cá ăn mồi trong sự mê, người ăn mồi trong khi tỉnh. Mồi đạo đức hay ho biết mấy. Rán trau giồi hằng ngày

Thầy dạy:Ðạo mầu tìm đến, lấy hạnh đức giồi tâm, mượn nâu sồng lánh thế, càng dìu sanh chúng, càng bước, bước càng cao, lên tột mây xanh vẹt ngút trông vào cảnh cực lạc an nhàn, non chiều hạc gáy, động tối qui chầu, ấy là khách Tiên gia, lánh khỏi đọa luân hồi nơi cõi thế vậy. Mau bước gắng tìm đường, kẻo rừng chiều bóng xế, chúng sanh khá biết cho.”

 

Tư vấn