Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 211 - Quẻ 240

QUẺ 211:

Song yến hàm thư vũ, chỉ nhật nhứt tề lai,

Tịch mịch yễm lưu khách, tòng tư hạ điếu đài.

雙 燕 啣 書 舞。 指 日 一 齊 來

寂 寞 奄 留 客 。從 玆 下 釣 臺。

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và ngoài trời

Giải nghĩa:   Tin thư theo én liệng bay,

Một ngày kịp đến trao tay cho người

Mịt mờ lòng khách phương trời

Lần theo bến nước kịp thời buông câu.

Chú giải: Cá sống trong nước là môi trường thích hợp. Người cũng có môi trường đạo đức mới làm cho cuộc sống vui tươi và bền bĩ. Nhưng nên nhớ kiếp sanh làm gì?

Sanh ra phận làm người, đã mang vào mình một trách nhậm đặc biệt, phải gắng sức làm cho hoàn toàn, hầu chờ buổi chung qui, tương công chiết tội, tiêu quả tiền khiên mà nâng mình vào địa vị cao thượng hơn phẩm vô vị chốn sông mê nầy. Thắm thoát ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang nhặt thúc, sen tàn cúc rũ, đông mãn xuân về, bước sanh ly đã lắm nhuộm màu sầu, mà con đường dục vọng chẳng còn biết đâu là nơi cùng tận. Lợi danh xạo xự, chung đỉnh mơ màng, cuộc vui vẻ chẳng là bao, mà chốn đọa đày chen chẳng mãn. Nỗi đau thương bề ấm lạnh, nào tiếng khóc đến câu cười, co duỗi, duỗi co, dở bước đến cảnh sầu, thì thấy chẳng lạ chi hơn là mồ hoang cỏ loán, đồng trống sương gieo, thỏ lặn ác tà, khách trần nào ai lánh khỏi!”

&

QUẺ 212:

Vọng khứ kỷ trùng san, cao thâm tiệm khả phan,

Cử đầu thiên thượng khán,

minh nguyệt xuất nhân gian

望 去 幾 重 山 。高 深 漸 可 攀 。

舉 頭 天 上 看 。明 月 出 人 間

Dịch nghĩa:  Nhìn xa mấy lớp núi non,

Núi cao non thẳm ắt còn gặp ta,

Ngẩng đầu xem đấng Trời Cha,

Sáng trăng sáng khắp gần xa cõi trần.

Chú giải: Cảnh núi non u-tịch gợi nhớ cảnh non Tiên động Thánh mà tâm tu còn vọng lại trong cõi lòng.

Lời Thầy: Chư nhu nghe: Nguồn Tiên, nẻo Phật, từ trước đến giờ vẫn chờ kẻ hữu phần, hữu đức, hữu công, tu thân, dưỡng tánh, mà lánh khỏi thói đời mê muội nầy. Biển khổ lắm chơi vơi, mà khách phàm hằng đeo đuổi; Ðài Nghiệt Cảnh rọi chẳng biết bao nhiêu tội tình, mà chốn tội tình lắm người đưa chơn tìm đến. Kiếp phù sanh không mấy chốc, đời mộng ảo chẳng là bao, sanh đứng nên người chen vai vào vòng thế cuộc, có khác chi kẻ bị đày vào biển khổ để làm xong nhân sự đặng chuộc thửa tội tiền khiên; bao nhiêu tiếng khóc câu cười, thế lộ bước đã mòn mà giấc mộng trần chưa thức tỉnh. Cang thường điên đảo, phong hóa suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau; mỗi Tôn Giáo phân chia, Ðạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà, tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần, mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói. Ðạo Trời khai dẫn bước lỗi lầm, đem kẻ hữu căn lánh vòng phiền não, nếu chẳng bả bươn nhặt thúc bóng thiều, kiếp phù sinh qua dường nháy mắt. Hãy biết lấy!”

&

 

QUẺ 213:

Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng,

Nhứt kỵ xuất trùng quan, giai âm chỉ xích gian.

用之則 行。舍 之 則 藏 。

一 騎 出 重 關 。佳 音 咫 尺 間

Dịch nghĩa:   Khi dùng vật tất được công,

Cất vào nơi kín như hòng bỏ rơi

Một mình một ngựa ra khơi

Tin lành bay đến như rời tấc gang.

Chú giải: CâuDụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” mà người đời nói tắt là “hành tàng”. Trong kinh có câu “Nay Hư linh đã thấy hành tàng” là do vậy. Hẳn nhiên cái đạo đức vốn trong tâm mỗi người đều có. Duy có kẻ chưa khêu dậy nên thường sử dụng cái thú tính mà hóa hung hăng. Còn người biết tu thì lần lần hóa giải, loại bỏ những thói hư tật xấu hằng ngày như gương trong nhờ lau chùi hằng bữa. Đến khi nào thuần khiết thì không cần phải lau nữa, như Đức Lục Tổ Huệ Năng vậy. Vì với ông thì “minh kính diệc phi đài” Còn gương nữa đâu mà lau? Nhưng còn khó!  

Thầy nói: “Lòng đạo đức của con, Thầy đã thấu rõ, nhưng gương khổ hạnh rán giồi thêm, hầu dìu dắt sanh linh vào nẻo chánh giáo, mà lánh khỏi đọa luân hồi, sanh nhằm thời buổi nhơn sanh dụng gương bất đức mà gieo họa cho bước trần; khiến cho sai sót nẻo luân thường; bến khổ đường mê vẫn cứ tìm vào mà làm cho biển trần chẳng biết bao nhiêu chìm đắm, đạo đức chẳng rèn lòng mà tội tình càng chác lấy; nếu chẳng có một Ðấng Từ Bi lấy đức háo sanh mở Ðạo Tam Kỳ đặng vớt những kẻ hữu căn, thì toàn thế giới sẽ bị dần dần tiêu diệt, ngôi cựu vị ở chốn non thẵm rừng xưa, cũng chẳng có một bực Tiên Thánh đọa trần nào đoạt lại được. Họa Âu tai Á sẽ vì Thiên Ðiều mà phạt kẻ bạo tàn tội lỗi; Càn Khôn tiều tụy, mà bước tục hỡi chần chờ, nếu chẳng sớm xét mình để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi, thì ăn năn rất muộn. Khá biết lấy, chư chúng sanh hãy nghe.”

&

QUẺ 214:

Tích đức thi công hữu tử tôn,

Sát ngưu tế thần nãi tây lân,

Công danh lưỡng tự thành toàn nhựt,

 Hồi thủ sơn hà vạn vật tân.

積 德 施 功 有 子 孫 。殺 牛 祭 神 乃 西 鄰 。

功 名 兩 字 成 全 日回 首 山 河 萬 物 新

Dịch nghĩa:  Chứa  nhiều công đức cháu con giàu,

Tế lễ thánh thần kỉnh thấp cao,

Công danh hai chữ tròn ngày tháng,

Ngoảnh lại nước non rực mọi màu.

Chú giải: người khác nhau nhìn qua tánh tình, đạo đức, mà phân biệt. Con cháu cũng nhờ phúc hậu của tổ tiên, ông bà, cha mẹ mà từ đó được nâng giá trị thêm cao. Làm người lớn phải biết nêu cao tấm gương cho đời sau hậu hưởng.Con cháu phải biết theo lối mòn đạo đức nghĩa nhân mà tô bồi âm chất. Phong hóa nay đã suy vi lắm rồi !

Thầy dạy:Thầy để lời cho con rõ, cảnh vui vẻ về sau của gia quyến con, đạo đức soi gương đem về chung một nẻo; dầu cho sang vinh trăm mối, tiền của muôn chung, mấy kẻ đặng tìm đến địa vị an nhàn xủ áo phồn hoa, để gương soi hậu thế. Một nhà sau gặp gỡ, ngàn trước vẫn an vui. Ấy là nhứt môn hạnh phúc vậy.”

QUẺ 215:

An thản lộ bình di, vân trung nhứt nhạn phi, đào hoa phùng sậu vũ, thuỷ bạn nữ tần đề.

安 坦 路 平 夷。 雲 中 一 雁 飛

桃 花 逢 驟 雨 。水 畔 女 頻 啼

Dịch nghĩa:   Đường dài bằng phẳng an toàn,

Trong mây cánh nhạn bay ngang lưng trời,

Hoa đào trước trận mưa rơi,

Có người con gái buồn đời thở than.

Chú giải:  Cảnh lịch, người xinh thắm thía lòng người, Sự nhàn hạ cũng làm cho thế nhân yêu thích, nhưng không khéo làm yếu đuối tâm hồn. Ở đây muốn gợi đến cảnh nhàn của người thoát tục và nhắc nhở kiếp nhân sinh hữu hạn, hãy nhìn một ngày qua là thời gian sẽ thu ngắn tuổi đời lại gần hơn. Những gì sẽ tới đây: già, chết không hẹn..

Chiều thu nguyệt xế, non nhạn ngày thâu; lẩn thẩn ngày tháng qua mau, buổi xuân ngoảnh lại đà xa lắc. Nếu chẳng bền lòng theo nẻo chánh mà thoát lối sông mê thì căn quả trả vay chẳng biết ngày nào tiêu tận đặng. Non cao, suối lặng, tìm đến rửa bụi hồng. Ðạo đức làm thang, để lên địa vị thanh cao, lánh khỏi đường tội lỗi; thưởng phạt hai đường, gắng công trình sẽ rõ.

&

QUẺ 216:

Môn nội khởi can qua, thân cừu lưỡng bất hoà,

Châu y tâm nhựt nguyệt, Thuỷ giác tiếu kha kha.

門 內 起 干 戈。 親 仇 兩 不 和 。

朱 衣 臨 日 月 。始 覺 笑 呵 呵

Dịch nghĩa:  Trong nhà giai thứ bất hoà

Họ hàng tôn tộc xem ra thù hằn,

Tháng ngày sẽ gặp quý quan,

Tình thân  thắm thiết mọi đàng cười vui.

Chú giải: Người không an, sự cũng không an. Tâm sự còn ngổn ngang, làm sao vững mọi đàng ? Tuy nhiên phải có tâm thành trí vẹn mới giải quyết mọi nghi nan bất ổn. Bởi:         

Thầy nói: “Người sống trên thế gian này, dầu thuộc giống dân nào cũng chỉ có một Cha chung mà thôi, ấy là Trời đang chế-ngự số mạng của các con. Tại sao các con lại chia rẻ nhau vì sự bất đồng Đạo-lý, mà chính tất cả các con đều phải chung chịu đau khổ để rửa tội của các con ở cõi thế gian này. Con để chơn vào con đường đưa đến cảnh an-nhàn hưởng những chuỗi ngày hạnh-phúc nơi cõi Niết-bàn. Con ráng tiếp tục đi trên con đường vạch sẵn ấy, để theo đuổi đến mức cuối cùng “(TNI/ 134)                                                                                       

&

QUẺ 217:

 Hữu nhứt nhân, hoạch nhứt lộc,

Sự viên đồ, môn ngoại tố.

有 一 人 。獲 一 鹿 。事 圓 圖 。門 外 素

Dịch nghĩa:  Trông ra thấy dạng một ai,

Hươu tơ nối bước theo tay dắt dìu

Thành công đến với mọi điều

Cổng ngoài nhân sự thuận chiều hân hoan.

Chú giải: hươu, báo điềm lành, vì nó là con vật hiền, dễ thương. Nếu đã hiền lành, ngoan ngoãn thì sẽ bị thú dữ ăn thịt hiếp đáp. Chỉ có người biết dụng cái hiền đó mới xử sự đúng mức mà thôi. Cũng như Việt Nam là một dân tộc hiền nhưng không nhược,  đạo đức chứ không khuất phục, thế mà lại bị các cường quốc đô hộ, hết Tàu ngàn năm, đến Tây trăm năm. Chỉ có Đức Thượng Đế mới  dùng giống

quí này mà làm nơi triển khai nền Đại Đạo hầu tiến đến Đại Đồng: Đại Đồng xã hội, Đại Đồng chủng tộc, Đại Đồng Tôn giáo. Người còn đến giao phó cho một dân tộc đã từng bị trị này “ngày sau làm Chủ mới là kỳ”. Đúng là một sự chọn mặt gởi vàng.Là người Đạo Cao Đài hãy làm một con người xứng đáng với sự tin yêu đó.

Chính Đấng Thượng Đế đã nói: “Chỉ có xứ Việt Nam còn duy trì được sự tôn-sùng Tổ-phụ theo tục lệ cổ truyền, mặc dầu xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ-thuộc từ ngày được tạo lập đến giờ. Nơi xứ này dân tình rất thuần hậu và ôn-hòa, Thầy đến cũng như Chúa Cứu-thế đã đến với chúng con để bài trừ tà thuyết và truyền bá chơn Đạo trên tòan cầu.”

&

QUẺ 218:

Nhữ vãng vô du lợi, hoa khai hựu cập thu,

Nghiêm sương vật tiến chí, thoái bộ bất tồn lưu.

汝 往 無 攸 利 。花 開 又 及 秋 。

嚴 霜 物 薦 至 。退 步 不 存 留

Dịch nghĩa:  Người đi chưa gặp điều may

Hoa vừa hé nhuỵ gặp ngày thu sang.

Sương dày phủ kín khắp đàng

Kíp quay gót lại kẻo ràng buộc chân.

Chú giải: Thu là mùa gặt hái kết quả. Chữ Nho biểu tượng cho lời nói ấy. Thu gồm có bộ hỏa là lửa mặt trời. Hòa là lúa, sở dĩ lúa chín được nhờ ánh nắng làm cho lúa chín. Nay là nguơn hội cùng cuối của Hạ nguơn Tam chuyển, Thầy mới đến lập Đạo CaoĐài cũng là mùa gặt hái kết quả

Thầy có dạy “Đạo là quí, của quí chẳng bán nài; các con đừng thối chí”. Bởi: “Hàng phẩm nhơn tước của các con nó trùng với hàng phẩm Thiên-tước của các con. Ngôi thứ Thầy đã sắp sẵn, các con ráng đọat thủ địa vị của mình. Trước qua sau tới liệu mà tu hành. Thầy khuyên các con một điều là: đừng tưởng lầm tước phẩm Thiên Đạo Thầy đem cho ai cũng đặng. Cửa Bạch-Ngọc-Kinh chẳng phải ai vô cũng đặng. Mỗi đứa con đều có tên trong Thiên-thơ cả, chức phận cũng đã tiền định, chớ chẳng phải tước hàm trần thế dâng cho kẻ lễ nhiều”                                                                                  

&

QUẺ 219:

Tân nguyệt vi câu, thanh phong tác tuyến,

Cử võng yên ba, cẩm tiên dị kiến.

新 月 為 鉤 。 清 風  作 線 。

舉 網 湮 波  。錦 鮮易 見

Dịch nghĩa:  Trăng liềm đầu tháng mới nhô ra

Gió mát xe dây kẻo muộn mà

Buông lưới trên sông cơn sóng nhẹ

Dễ nhìn cá gấm vượt dòng qua.

Chú giải: Cảnh gió mát trăng thanh, cá trong nước nhởn nhơ bơi lội. Người nhàn tâm nhàn trí, cảnh nhàn hạ thích hợp với tâm tu. Phải biết rõ để không còn phân vân:

Thầy dạy: “ Từ Ðạo khai sáng đặng gieo truyền mối chánh giáo đến nay, thì phần nhiều môn đệ đã để trọn tấc thành mà dìu dắt sanh linh và đắp vun mối Ðạo Trời, ấy là những đứa Thầy đã tin cậy, đặng gia công dọn lấy chông gai để mở trống nẻo thiêng liêng, dẫn lần dân sanh thoát khỏi sông mê bến khổ, tất là cõi trần vô vị nầy. Ðạo đã lập thành, gót trần của phần nhiều môn đệ hầu rửa sạch bợn, nhưng các con phải chịu lắm nỗi gay go mà gieo mối thương yêu cho đoàn hậu tấn, gương sáng đã giồi nên, mà con thuyền Bát Nhã phải tùng nơi máy Thiên cơ, mà lắm phen lắc lẻo đắm chìm biết bao khách tục.”

&

QUẺ 220:

Tiên quan tiêu cẩn. Đề phòng tiểu tiết bất hoà.

Giới nhân tuần thành đại ương.

先 關 銷 謹 。提 防 小 節 不 和 。

戒 因 循 成 大 殃。

Dịch nghĩa:  Khép kín nên gìn thận trước sau

Tí ti việc nhỏ chớ khinh nào

Dần dà hao tổn theo ngày tháng

Hoạ nhỏ không phòng nạn lớn theo.

Chú giải: sự cẩn thận bao giờ vẫn hơn. Trong dịch có câu “lý sương kiên băng chí” tức nhiên khi chân đạp lên tuyết thì đoán được rằng băng giá sẽ đến. Nay vì sự khổ của nhơn sanh là báo nguy cho ngày tận diệt, Đạo mới ra đời.

Thầy cho biết “Ðạo Tam Kỳ hoằng khai tại cõi Nam, đã chiếu theo Thiên thơ, Hội Tam giáo, mà vớt chúng sanh thoát vòng ly khổ, thiệt thiệt, hư hư, một mảy chi, cũng chẳng qua là máy Thiên cơ mà thôi. Ðạo Trời mở ra cho một nước tất là ách nạn của nước ấy hầu mãn. Phải giồi lòng trong sạch, lấy sự nhẫn nhịn làm gương soi mình hằng bữa, phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau dường như con một nhà, rồi cái thương yêu, sự giúp lẫn ấy sẽ dìu chung các con vào tận chốn Cực Lạc thiêng liêng, để tránh khỏi nơi khổ cùng tiều tụy. Khá biết lấy.”

&

QUẺ 221:

Yến ngữ oanh đề, hoa khai mãn viện,

Ỷ lan xuân thuỵ giác. Vô ngữ liếm sầu nhan.

 語  鶯  啼 。花  開  滿  院  。

倚  欄  春 。 無  語  斂 愁  顏

Dịch nghĩa:  Giọng oanh lời én líu lo

Đầy vườn hoa nở nhỏ to sắc hồng

Tựa hiên chợt giấc xuân nồng,

Mày chau biếng nói má hồng kém tươi.

Chú giải: Sắc diện con người là hiển lộ cả tánh tình buồn vui, giận ghét. Vì mặt như kính soi cả tâm hồn, gương mặt làm chủ con người. Thì đây Đấng Thượng đế làm chủ nhân loại, Ngài là Chúa cả càn khôn, làm Cha của nhân sinh nên thấu rõ sự đau khổ của con người nên sẵn sàng ra tay cứu vớt, gọi Ngài là Đấng Đại Từ đại bi là vậy.

Thầy dạy: “Từ đây, Thầy là Ðứng chủ trung dìu dắt các con trong đường đạo hạnh, nhứt nhứt đều tưởng có Thầy bên các con  và đợi nơi Thầy mà thôi. Ðường tuy xa, bước đường tuy gay trở, nhưng các con lướt nỗi sự hiểm nguy đặng đến cùng Thầy trong buổi chung cuộc. Môn đệ nhiều đứa lòng vẫn nhẹ tợ lông, thấy sự chi khó thì đã muốn bần dùn thối bước.”

&

 

QUẺ 222:

   Lao tâm lao tâm, lao tâm hữu thành,

Thanh phong tá lực, hoan tiếu tiền trình.

心 。勞 心 有 成  。

清 風 借 力 。 歡 笑 前 程

Dịch nghĩa:  Lao tâm luống những lao tâm

Lao tâm vui thấy việc thành không xa

Gió lành thêm sức đưa qua,

Tiền trình ắt đã vui hoà may duyên.

Chú giải:  Con người là cái máy lo âu và nghĩ nghị. Nghĩ nghị mà không thấu vấn đề chỉ là làm thêm rối mà thôi.Bất cứ đứng trước sự việc gì phải nhận định cho rõ. Cũng như người muốn vào Đạo không phải nhắm mắt nghe theo, mà phải tìm hiểu  cho rõ tôn chỉ và mục đích là gì ? Đây:

Tôn chỉ hay Tông chỉ là những nguyên tắc và tư tưởng chánh yếu chi phối mọi hoạt động. Tôn chỉ của Ðạo Cao Ðài là Qui Tam giáo Hiệp Ngũ Chi, làm thành một nền Tân Tôn giáo gọi là Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ do Ðức Chí Tôn làm chủ, cứu độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi, trở về cõi thiêng liêng hằng sống.

&

QUẺ 223;

Tấn bộ thả bồi hồi, xuân phong liễu khứ xuy.

Thuỷ biên hành lộ quyện, chẩm bạn hữu ưu hoài.

進 步 且 徘 徊 。春 風 柳 絮 吹 。

水 邊 行 路 倦 。枕 畔 有 憂 懷

Dịch nghĩa: Tiến lên lòng những phân vân

Phấn hương nhuỵ liễu gió xuân thổi vào

Khách dần mỏi mệt bên bờ,

Tựa bên gối trống thẩn thờ buồn tênh.

Chú giải: Người buồn vẩn vơ vì cuộc đời không định hướng, tâm tư không có nơi làm điểm tựa. Tiền bạc là vật chất  chỉ giải quyết những gì về vật chất. Linh hồn phải có nơi an trụ, không gì bằng con đường đạo đức

Thầy dạy: “Ai đặng phước thêm cao trọng, ai vô phần thì trí não vẫn mờ hồ, nét hạnh đời càng mê muội, biết biết không không, luật Trời đã định, phần công quả trả cho rồi thì cảnh u nhàn là nơi rước khách tục trong lúc chung qui đó. Sanh nhằm đời có một Ðạo chánh chẳng phải dễ, mà bước lên con đường chông gai, lần vào non thẳm kiếm ngọc lại càng khó. Khó dễ nơi lòng, chớ đem thói ám muội mờ hồ vào đường đạo đức, sau ăn năn rất muộn.”

&

QUẺ 224:

Ngọc thạch do chung thời, Na kham tiểu hối đa,

Chung vô cữu, tiếu kha kha.

玉 石 猶 終 時 。那 堪 小 悔 多 。

終 無 咎 。笑 呵 呵

Dịch nghĩa:  Ngọc lành đợi giá thời gian

Vì chưng việc nhỏ thở than lắm điều

Tội tình tan biến qua mau

Niềm vui hả dạ cất cao tiếng cười.

Chú giải: Vật chất nó có cái giá của vật chất. Ngọc quí vì hiếm. Thoản như nó nhiều như cát chắc không còn ai quí nữa đâu. Bình tâm mà xét cái quí của nó để làm gì ? Nó có làm tăng cái trí tuệ của người không ? Nó có đưa người lên thiên đàng không? Ngược lại nó làm giảm là có. Vì người mang ngọc trong mình sẽ kiêu hãnh, cao ngạo, hách dịch. Sự quí trọng của Đạo đức thì vô ngằn, không mua, không bán, không lỗ, không lời, người có nó không bị cướp.

Thầy dạy:Ta vì lòng đại từ đại bi, vẫn lấy đức háo sanh mà dựng nên mối Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, tôn chỉ vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa vị cao thượng, để tránh khỏi số mạng luân hồi và nâng những kẻ tánh đức bước vào cõi nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở nơi trần thế nầy. Than ôi! Ðiều vui sướng lao trần chẳng ai buộc mà nhiều kẻ tìm tới, mối đạo đức trau thân là phương châm thoát tục mà lắm kẻ trốn lánh, bài bác mối Ðạo Trời, khua môi uốn lưỡi, mà tưởng cho mình hơn đặng các phẩm nhơn sanh, chớ chẳng dè là một hình phạt rất nặng nề đã chực chúng nó nơi chốn A Tỳ.”

&

QUẺ 225:

Thuỵ dực dao thiên khứ, giai nhân tí nan hành.

Nhứt đồ kinh tế ý, hựu thị mãn viên xuân.

睡 翼 遙 天 去 。皆 因 避 難 行 。

一 途 經 濟 意 。又 是 滿 園 春

Dịch nghĩa:   Đường xa mỏi cánh chim trời

Cũng vì lánh bước vượt khơi núi đèo

Đủ đầy kinh nghiệm ý mưu

Như vườn xuân nở hoa nhiều mùi hương.

Chú giải: Người mưu trí tính thiệt hơn với người kém trí đó là ma người. Đạo cao ma khảo ấy là ma đạo. Đã là luật thì không tránh khỏi. Nói Phật là có Ma, nói Trời là có quỉ

Hai đối tượng đi liền nhau..Hãy nghe “Đạo khai tà khởi”:

“Sự biến xảy ra đến nay đã thành một trường ngôn luận

có khi cũng náo nhiệt đến nền Ðạo. Kẻ gọi Tà, người nói Chánh. Nơi Thiên thơ đã có dấu ràng ràng. Các con có đi tranh luận cũng nhọc công vô ích. Kẻ hữu phần, người vô phước, tin tin, không không, cũng chẳng sửa cơ Trời đặng. Ðường còn dài, bước càng nhọc, thì nền Ðạo càng cao, công trình càng rỡ. Ôi! Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ, vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước. Thầy cũng phải đau lòng mà nắm máy huyền vi để cơ Trời xây đổi. Các con liệu lấy.”

&

QUẺ 226:

Giai tín chí, khai tiếu nhan,

phi đằng nhứt khứ, phi vân thượng thiên.

佳 信 至。 開 笑 顏 。飛 騰 一 去。 披 雲 上 天

Dịch nghĩa:  Tin lành thoắt đã đến nơi

Vẻ tươi theo với nụ cười trên môi

Sở cầu như nhạn bay cao

Mây xanh rẻ lối tới mau cửa trời.

Chú giải: Người muốn tìm trời cầu Phật lắm. Vì sao, vì gốc con người vốn từ đó mà phát xuất. Câu “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” không sai chạy. Nay Đấng Thượng Đế cho nhân loại thấy hiện thân của Ngài là Đức Hồng Quân Lão Tổ, hình ảnh  trên Cung đạo đó

Hồng Quân Lão Tổ là ai? Một hóa thân của Thượng Ðế. Theo Truyện Phong Thần, Hồng Quân Lão Tổ có ba học trò là: Lão Tử, Nguơn Thỉ Giáo chủ Xiển giáo, Thông Thiên Giáo Chủ Triệt giáo. Học trò Xiển giáo và học trò Triệt giáo thường có chuyện tranh chấp nhau, khiến hai vị Giáo chủ vì binh học trò mà bất hòa. Hồng Quân Lão Tổ phải can thiệp và phân xử. Khi Ðức Chí Tôn chưa mở Ðạo Cao Ðài ở nước Việt Nam, Ðức Chí Tôn đã cho các Ðấng dùng huyền diệu cơ bút mở đạo ở các nơi trên thế giới như: Thần Linh Học ở Âu Mỹ Châu, Thông Thiên Học ở Mỹ và Ấn Ðộ, đạo Omoto ở Nhựt, đạo Minh Sư ở Trung Hoa…để báo trước sự xuất hiện của Ngài đó vậy.

&

QUẺ 227:

Thanh chiên không thủ cựu, chi thượng sào sinh phong, mạc vị nhứt thời hỉ, hoàn nghi thử tượng hung.

青 羶 空 守 舊。 枝 上 巢 生 風 。

莫 為 一 時 喜 。還 疑 此 象 凶

Dịch nghĩa:  Chiên xanh giữ nếp thói nhà

Tổ chim gặp trận gió qua đầu cành.

Chớ nên hoan hưởng trăm phần

Hoạ hai dễ tới dập dồn ngaị lo.

Chú giải:  những sự kiện trong trời đất dầu chưa xuất hiện nhưng cũng có điềm báo trước. Như trước khi có Sấm nổ thì thấy được tia chớp sáng lòe. Trước khi Đạo Cao Đài xuất hiện thì có lời tiên tri của các đấng báo cho.

Thầy dạy: “Đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu. Chẳng khác nào khi trước, Nhơn đạo chưa mở thì đã có Châu Công truyền trước. Thánh đạo Jésus chưa ra đời thì đã có Moise, Élie, Gérimie, Saint Jean Baptiste. Ðạo Tiên Nguơn Thỉ chưa ra đời thì có Hồng Quân Lão Tổ, Lão Tử, Thông Thiên Giáo chủ truyền đạo. Phật Thích Ca chưa ra đời thì đã có Nhiên Ðăng Cổ Phật và Brahma truyền đạo. Thầy chưa giáng cơ lập đạo tại nước Nam, chớ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, dùng huyền diệu nầy mà truyền đạo cùng vạn quốc.”

&

QUẺ 228:

Mạc ngôn kinh cức ố, chung vi loan phụng thê,

Mục tiền ưng hữu đãi, hà dụng tảo đào hô.

莫 言 荊 棘 惡 。終 為 鸞 鳳 棲 。

前 應 有 待 。何 用 早 濤 乎。

Dịch nghĩa:   Đừng phiền gai gốc rối ren,

Phượng loan  rồi cũng có phen đậu nhờ

Đường dài trước mặt gắng chờ

Cần chi gắp rút đắn đo ngại ngần.

Chú giải: quẻ này cũng ứng cho việc luân hồi sanh tử. Đó là một cơ huyền diệu mà không thể bỏ được. Chính đó là trường tiến hóa của kiếp nhân sanh, thể hiện sự công bằng.

Thầy dạy:“Nếu các con hiểu rõ cơ huyền diệu của kiếp luân hồi con người, chẳng phải như thói thường tình định liệu, thì con không buồn và cũng không oán trách Thầy. Nơi Bạch Ngọc Kinh, cả thảy đều là con cái của Thầy, tức là anh em với nhau. Cái phẩm vị của các con phải buộc tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị tối thượng mình là nơi Niết Bàn. Một lời nói với nhau cũng đủ cả hai xuống thế mà khuyên giúp lẫn nhau. Con chẳng nên gọi oan nghiệt.”

&

QUẺ 229;

Thượng hạ hoà, ưu sầu quyết,

Thiên chướng vân, nhứt luân nguyệt.

上 下 和 憂 愁 決 。天 嶂 雲 一 輪 月。

Dịch nghĩa:Trên dưới đã thuận hoà, Lo sầu giải quyết qua

Ngàn non mây phủ kín.Trăng sáng toả bao la.

Chú giải: điềm lành đã ứng hiện. Đâu đo có trật tự phân minh. Cũng là một trường thử thách để phân thấp cao thượng ha mà thôi.Quẻ này ứng với việc đạo pháp sau đây:

“Ðại Ðạo Tam Kỳ chẳng khác chi một trường thi công quả. Nếu biết ăn năn trở bước lại con đường sáng sủa, giồi tâm trau đức, đặng đến hội diện cùng Thầy, thì mới đạt đặng địa vị thanh cao trong buổi chung qui cho”.

&

QUẺ 230;

Ngọc xuất côn cương thạch, châu ly cổ độ than,

Hành tàng chung hữu vọng, dụng xả bất vi nan.

玉 出 崑 岡 石 。舟 籬 古 渡 灘 。

行 藏 終 有 望 。用 舍 不 為 難

Dịch nghĩa:  Núi Côn cho lắm ngọc vàng

Thuyền xa bến cũ thác ngàn hiểm nguy

Trước sau tất sẽ gặp thì,

Đem dùng hay bỏ lo gì nguy nan

Chú giải: Điềm may mắn, nhưng nên nhớ của quí làm mồi cho trộm cướp. Thực ra tên cướp không độc ác như đời thường tưởng nhưng chỉ động lòng tham, mà túng cùng phải liều để thoát thân.Người vốn có sẵn tánh trời mà

Thầy dạy:Thầy vì đức háo sanh, nên chẳng kể bực Chí Tôn cầm quyền thế giới, đến lập Ðại Ðạo Tam Kỳ trong lúc hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải. Ai biết đạo tức là có duyên phần, ai vô đạo tức là số chịu hình khổ luân hồi. Phải mau chơn, bằng luyến ái sự thế thì sau ăn năn rất muộn. Than ôi! Thầy đã là Ðấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo hóa, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó, thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẽ bỏ phép công vì sanh chúng.

&

QUẺ 231:

Mục hạ ý nan thư, hữu khách lai từ từ,

Kim xa tuy lịch hiểm, lận tất hữu chung dư.

目 下 意 難 舒 。有 客 來 徐 徐 。

金 車 雖 曆 險 。吝 必 有 終 輿

Dịch nghĩa:  Dưới mắt dạ chưa an

Dần dần có khách sang

Xe vàng gian khổ qua cơn hiểm

Cần kiệm ngày sau được vẻ vang.

Chú giải: Sự hạnh phúc con người là của cải vàng bạc, nhưng cái hạnh phúc lớn cho nhân loại mà từ xưa đến giờ mấy đời ông cha ta ao ước vẫn chưa được, đó là Đức Thượng Đế ban cho mối đạo nhà,hạnh phúc này to lớn lắm

 Đức Lý nói:Ðặng bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới dìu dắt, rửa lỗi, mà chẳng bươn chải cho kịp thì, để đua nhau nghĩ tính về miếng đỉnh chung, nếu Thầy chẳng đại từ đại bi thì công quả đã chảy theo dòng nước.Từ đây Bần đạo phải để ý dìu dắt bước đường cho các đạo hữu, phải gắng công thêm nữa cho hiệp với cơ Trời. Ai hữu phước thì địa vị đặng cao thêm, ai vô phần thì bị đọa Tam pháp. Phước phần cũng khó lựa người, rủi rủi may may đừng trách nơi Bần đạo.”

&

QUẺ 232:

Khả dĩ ký, khả dĩ thác, sự trì trì, vô suyễn thác.

可 以 記 可 以 託  。 事 遲 遲 無舛 錯

Dịch nghĩa:  Có thể gởi trao chẳng ngại ngần

Giao cho mọi việc vững lòng tin

Chậm chậm đợi thời tua đắc việc

Không hiềm sai trễ lẫn băn khoăn.

Chú giải: Một sự chuẩn bị lâu dài của Đấng Thượng đế qua câu “khai Đạo muôn năm trước định giờ” mới thấy rằng tất cả đều nằm trong Thiên-thơ, Việt Nam hân hạnh:

Đức Lý nói:Mở một mối đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối đạo cũng chẳng phải dễ. Muốn lập thành tất phải có điều nghiêm chánh thưởng phạt. Có thưởng mới giục lòng kẻ có công, có phạt mới răn đặng lòng tà vạy. Thưởng phạt tuy chẳng phải hữu hình, nhưng là một sự mừng vui, chưa có bậc cao thượng ở thế nào bằng, và một sự buồn bã nào sánh đặng. Dầu có ăn năn hối hận mấy kiếp, ngày giờ cũng đã qua rồi. Ngôi Cực Lạc vẫn có người choán hết.”

&

Quẻ 233:

Khủng cụ ưu tiên, giai tại mục tiền,

Nhược phùng minh giám, chỉ phá không truyền.

恐 懼 憂 煎 。皆 在 目 前 。

若 逢 明 鑑 。指 破 空 傳

Dịch nghĩa:  Buồn lo sợ sệt chất chồng,

Bày ra trước mắt muôn phần ngại nghi.

May ra Thần thánh hộ trì,

Lời truyền nhảm nhí có gì phân vân.

Chú giải: Quẻ này ứng cho một trật tự phân minh, người chiếm quẻ này phải có bộ óc khoa học, toan tính rõ ràng,

xử sự cho trên dưới hài hòa, có sự kính nhường nhau.

 Đức Lý dạy:Từ đây Thầy đã giao quyền thưởng phạt về nơi tay Bần đạo. Vậy các đạo hữu khá hết lòng lo lắng vun đắp nền đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.”

&

QUẺ 234:

Nguyệt yễm vân gian, hôn mê đạo lộ,

   Vân tán  nguyệt minh, Tiệm nghi tấn bộ.

月 掩 雲 間 。昏 迷 道 路 。

雲 散 月 明 。漸 宜 進 步

Dịch nghĩa:  Mây mờ che khuất vầng trăng,

Đường đi lầm lạc biết chăng nơi nào ?

Mây qua trăng tỏ trời cao,

Dần dần tiến bước thăng mau toại lòng

Chú giải: Mây mờ là bối cảnh bên ngoài, trăng là ngôi Âm, ngôi Mẹ. Từ xưa đến giờ qua hai kỳ Phổ Độ, các Đấng Giáo chủ chỉ thờ Đức Thượng đế là ngôi duy nhất.. Ngoài ra nhân loại chỉ biết đến đấng Giáo chủ của thời kỳ đó mà thôi. Nay Đức Thượng-đế đến mở cho Việt Nam

một nền Chơn đạo có đủ Âm Dương hiệp nhứt, tức nhiên

Đức Thượng đế mà nhân sanh tôn tặng là Đấng Đại-Từ Phụ, bên cạnh là ngôi Phật Mẫu tức là Mẹ sanh hay là Đại Từ Mẫu. Như vậy là bây giờ có đủ cha mẹ thiêng liêng rồi

“Trong vũ-trụ Chúa cả tạo-đoan  là Thầy nắm cả huyền-vi bí-mật trong tay. Thầy mới phân tánh Thầy ấy là Pháp, Pháp tức là quyền-năng của Thầy thể hiện ra, cũng như lý Thái-cực ở trong cõi tịnh, rồi từ trong cõi tịnh lý Thái-cực phát động mới sanh ra Pháp. Pháp tức là những định-luật chi-phối cả Càn-khôn, mà người nắm luật chi phối ấy là Phật-Mẫu.

&

QUẺ 235:

Đạo lộ tại chiêu hô, phong ba nhứt điểm vô.

Thời lai tâm tự loạn, toàn trượng quí nhân phù.

道 路 在 招 呼 。風 波 一 點 無 。

時 來 心 緒 亂 。全 仗 貴 人 扶。

Dịch nghĩa:  Đường đời chậm bước đợi chờ

Sóng yên gió lặng bấy giờ vững tin

Thời xuôi dù bận đến mình,

Nhờ người giúp sức sự tình yên vui.

Chú giải: Lời chiếm quẻ này người trong cuộc không nên vội vã, dục tốc bất đạt mà ! Trái cây vú ép nào có ra chi. Tuy nhiên dầu chậm một bước nhưng việc sẽ lướt tới một ngày. Hãy xem quẻ này ứng với lời dạy Đạo sau đây:

Về mặt Tôn-giáo “Là một cơ cấu hữu-vi thì cũng không ngoài luật ấy, nên trước tiên cần có đủ chủ hướng là Tinh-thần ấy là Tín-ngưỡng, chủ Tinh-thần ấy là linh hồn của Đạo-giáo, mà linh hồn của Đạo Cao-Đài là Đức Chí Tôn chủ về cực dương. Một tôn-giáo muốn sống bền vững và phát triển tốt đẹp thì tôn giáo ấy có đủ Tam-bửu: TINH, KHÍ, THẦN.

           -Về Thần: thì khi lập Đạo Cao-Đài, Thần đã sẵn có do Đức Chí-Tôn làm chủ linh hồn của Đạo-giáo.

           -Về Khí thì buổi phôi thai chưa mấy tựu thành nên Đức Chí-Tôn mượn hình thể Diêu-Trì-Cung làm  Khí.

           -Về Tinh là hình thể của Đạo Cao-Đài tức là ba chi:

PHÁP, ĐẠO, THẾ  tượng trưng là: Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh.

&

QUẺ 236;

Lâm uyên phóng câu, thanh tuyệt trần ai,

Cự ngao tuỳ đắc,   bất dụng nghi sai.

臨 淵 放 鉤 。清 絕 塵 埃 。

巨 鰲 隨 得。不 用 疑 猜。

Dịch nghĩa:  Vực sâu ngư phủ buông cần,

Thanh cao là thú bụi trần ngại chi

Cá to mình được có khi,

Còn đâu ngần ngại nghĩ suy liệu lường.

Chú giải: Nhàn thì có nhàn, ấy là một tâm hồn thoát tục. Người chiếm quẻ này phải biết hướng thiện và hướng thượng vì đó là trọng tâm của quẻ, ứng với sở cầu. Quẻ này ứng với lời dạy đạo. Điều cần nhứt là đạo làm người:

Hãy nghe tinh-ba của Nho-Tông là gì ? Phải chăng cái chiến-thuật của nó là “Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ” tức nhiên cái tôn chỉ cao thượng của Đức Mạnh Tử là: “Đại học chi Đạo, tại Minh Minh đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư Chí thiện” Nhưng thế nào là tu thân ?  Từ trước, đề tu thân đã bàn qua nhiều rồi, nay dẫn từ thượng cổ tới giờ, đức Thánh-nhân lấy hai chữ “tu thân” làm căn bản. Hai chữ tu thân đã có từ lâu, nếu chúng ta xem lịch-sử của Nho-Tông thấy nó đã xuất hiện từ đời Huỳnh-Đế, có trên không biết mấy ngàn thế-kỷ trước Thiên-Chúa giáng sanh.

&

QUẺ 237:

Vô trung ứng hữu chân. Tâm sự hoàn thành thích, Vân trung nguyệt trùng viên, Thiên lý phong phàm cấp.

  無 中 應 有 真。心 事 還 成 戚 。

雲 敢 月 重 圓 。千 里 風 帆 急。

Dịch nghĩa:  Trong rỗng ngoài kiên chí trượng phu

Chuyện mình vắng lạnh vẫn âu sầu

Mây qua trăng hiện tròn vành vạnh

Một cánh buồm xa gió thổi mau.

Chú giải: Người chiếm quẻ này có lòng muốn có được một  cuộc sống đoàn tụ, thể hiện được cái gia phong, gia pháp, định lại kỷ cương trong nhà. Hãy áp dụng ngay đi. “Khuôn luật của  Đạo Cao-Đài là lo về phần thế-đạo tức là Nho-Tông chuyển thế. Mà Nho-Tông chuyển thế tức nhiên Đạo của Tổ phụ chúng ta từ ngàn xưa để lại. Ấy vậy những yếu-lý của Nho-Tông mới có thể làm  mực thước mà định chuẩn thằng trong khuôn khổ cái sống đương nhiên của mình đặng, chúng ta đã ngó thấy Nho-Tông của chúng ta là một nền tôn-giáo xã-hội, đặc điểm của nó là Đức Chí-Tôn đến lập trường Nho-tông trị  thế .

&

QUẺ 238:

Tạo hoá sinh lai tính tự nhiên,

Suý chinh thiên lý phúc miên miên,

Công danh đắc lợi thần minh trợ.

Xà thố tương phùng định biến thiên.

造化 生 來 信 自 然。 師 征 千 里 福 綿 綿

功名 得 利 神 明 助。 蛇 兔 相 逢 定 變 遷。

Dịch nghĩa:   Đất trời đã sẵn niềm tin

Triền miên phúc đức xuất chinh dặm ngàn

Thành công nhờ Đấng linh thần,

Xoay chiều thỏ rắn có lần gặp nhau.

Chú giải:  Hạnh phúc của gia đình có bền lâu là nhờ giữ được gia phong tốt đẹp có bao đời rồi. Dưới mắt chủ gia đình này chưa hài hòa, vì tuy giàu có sang trọng mà mất đi một phần sự cao quí của gia pháp. Tất cả chỉ là màu mè thôi, e ra không bền, như nhà thiếu nền móng, dễ lún lắm.

Tâm lý con người hay xu ác mà xa thiện, vì cớ cho nên các vị Giáo-Chủ lập nên Tôn-giáo dạy phải làm thế nào gọi là tu thân. Dầu cá nhân hay toàn thể nhơn loại cũng phải lấy hai chữ “Tu thân” làm gốc và chính nó khởi đương cho sự lập đức là “tại minh  minh đức” vậy.           Nếu cả thảy đều biết nỗi khổ của nhơn loại mà làm phương Tu thân, lập đức thì cái giá trị của thiên hạ thực hiện một cách dễ-dàng và chính những tâm hồn ưu-ái vì Đạo, vì Thầy và vì nhân-loại phải đem cái đức thiêng liêng ấy rải khắp cả thiên hạ thì mới cứu khổ được”.

&

QUẺ 239:

Đại trượng thần uy, quần dương vị diệt, liễu hựu tu uy, thần uy diệc cực lực, lao lao ký thủ,

chí cửu hậu thất điệt.

大 仗 神 威 。群 羊 渭 滅 。了 又 須 威 。

神 威 亦 極 力。 牢 牢 記 取 。至 久 後 失 跌。

Dịch nghĩa:   Oai thần giúp sức gian phi,

Trong sáng cõi đời phải dụng uy

Tiếp xử khá gìn phương liệu chắc

Sẩy chân đâu ngại đến sau này.

Chú giải:  Muốn biết lẽ thịnh suy bĩ thới của ngôi gia lấy gì làm chắc? Cha phải xứng phận cha, con xứng phận con. Tất cả phải biết tôn trọng nhau  trong sự điều hòa, thế nên:

Phải làm thế nào gọi là TU ? Người muốn cho linh hồn

khỏi mấy điều khổ nhục ở đời như: Sanh, Lão, Bịnh, Tử, thì phải biết Đạo mà trau mình hạnh đức, phải lo tu tâm dưỡng tánh. Chữ tu là trau giồi tánh hạnh, chớ không chỉ riêng việc từ mơi tới chiều tụng kinh gõ mõ mới gọi là Tu. Tu có nhiều bậc. Bậc Thượng thừa phải ép mình hành xác, phải nâu sồng, khổ hạnh, lo làm âm chất, lo công quả cho Trời  Phật, chừng quả mãn, tìm chỗ an-nhàn mà luyện Đạo. Nếu  trong thế gian này mỗi người đều phế công việc, không làm, mà tìm chỗ u-nhàn như vậy, cho là bậc Thượng thừa rồi thì thế sự này phải ấm lạnh, có ai đâu mà lo nhơn đạo ? Con người ở thế, mỗi cá nhân đều có  phận sự; nếu bỏ phận sự thì thất nhơn-đạo, mà không Đạo nào tránh khỏi nhơn-đạo cho được. Người hành đạo muốn bỏ nhơn đạo, không lo nhơn-đạo cho hoàn-toàn  thì hành-đạo vô ích. Ấy vậy, trước hết phải biết Đạo là biết có Trời, có Phật, Tiên,Thánh; phải biết có luân hồi chuyển kiếp.

&

 

QUẺ 240:

Đạo tất kiên tâm, kiên tâm tất đạo thành, kiến công huân tảo, hồi trình giá mao am, tu chân thân,

Nhứt nhựt phi thăng. Tiên ban ngoại danh.

道必 堅 心堅 心 必 道 成 。建 功 勳 早 。回 程 這 茅 庵 。須 真 身。一 日 飛 升 。仙 班 外 名。

Dịch nghĩa:  Đạo phải vững tâm đạo mới thành

Đạo thành sớm sớm kíp quay chân

Thảo am tìm lý tu chân thể

Đạo đắc thang tiên vượt thẳng đàng.

Chú giải: “Ðạo Trời soi gương rạng, khá biết tỉnh mộng hồn, kiếp sanh chẳng bao lâu, đừng đợi đến ngày cùng tận. Nơi trường thi công quả, nên cân lấy phước phần, chẳng sớm trau thân rừng chiều ác xế. Chúng sanh rán biết lấy.Thầy hằng muốn cho các con hiệp chung nhau mở đường chánh giáo, phải biết tương thân tương ái, chia vui sớt nhọc cho nhau mà dìu dắt chúng sanh. Nếu vì chút phàm tâm mà chia đường phân nẻo, ghét nghịch lẫn nhau, các con sẽ treo gương bất chánh cho kẻ sau, lại nền Ðạo cũng vì đó mà khó mau thành đặng. Các con khá để ý đến, ấy là các con hiến cho Thầy một sự thành kính trọng hậu đó.”

Tư vấn