Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 241 - Quẻ 270

QUẺ 241:

Nhứt niệm thướng thiên đường, nhứt niệm nhập địa ngục, thiên đường địa ngục tiên phân lạc nhục.

Tự lập niệm đầu yếu chân, bất khả tuỳ nhân lục lục.

一 念 上 天 棠 。一 念 入 地 獄 地 獄 。

天 棠 地 獄 便 分 樂 辱。

 自 立 念 頭 要真 。不 可 隨 人 碌 碌

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và ngoài trời

Dịch nghĩa:  Thiên đường nẻo đến không xa

Đường vào địa ngục âu là bên nhau

Hai đàng vinh nhục thấp cao

Tâm lành chọn lấy lối vào thẳng ngay

Chớ nên tuỳ tục theo bầy.

Chú giải:   Câu “họa phúc vô môn duy nhân tự triệu” có nghĩa là “điều họa phúc không hay tìm tới,Tại mình dời nên mới theo mình” tức nhiên gia đình biết giữ tròn câu nhơn đạo thì có trật tự kỷ cương. Cái văn minh vật chất đã xô ngã bức tường lễ giáo nhiều lắm rồi. Hãy xem còn lại vách nào cố chống đỡ lên

         Theo tinh thần nhơn đạo thì:

           - Trai thì lo Tam cang, Ngũ thường,

           - Gái thì lo Tam tùng, Tứ đức.

           Trước hết, lo tu tại gia, tại thiền, tại thị; lo làm lành lánh dữ, trau-giồi tâm tánh chơn thành; ấy là tu đạo làm người: Nhân,  Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, phải giữ hẳn-hoi; Tam cang phải nắm chặt. Ở thế phải tuân theo luật thế.            Người phải giữ nhơn-đạo cho hoàn-toàn thì lo gì không gần Thiên đạo.

           Giới tâm kinh, có lời rằng

                  Mày râu đứng giữa cõi trần gian,

                 Gắng sức chống cho vững miếu đàng.

                 Phận gái Tam tùng cùng Tứ Đức,

Tề gia nội trợ vẹn là ngoan,

                 Ngoan ngùy chơn chánh Phật, Thần thương.

Chơn chánh liên hòa với thiện lương.

                 Thần ,Thánh thành do người chánh thiện.

                 Thiện lương chơn chánh đức không lường …

&

QUẺ 242:

Dương thố quần nhựt đối dân,

Phùng ngưu khẩu, tiện giảo nhân,

Nhứt cá quân , nhứt cá thần, quân thần hữu ta kinh,

Tu du chân thần, chủng cứu thương sanh.

羊 兔 群 日 對 民 。逢 牛 口 。便 咬 人 一 個 君。 一 個 君 一 個 臣。 有 些 驚 。

須 攸 真 神 塚 救 蒼 生

Dịch  nghĩa:  Dê con lạc lối lìa đàn,

Miệng trâu năm đói thì toan cắn người.

Thương dân lo tính cho rồi,

Quân thần phận sự bồi hồi thất kinh.

Phải khi cậy sức thần linh,

Cứu nguy giải khổ chúng sinh thoát nàn.

Chú giải: Cúng phẩm ngày xưa (lúc chưa có Đạo Cao Đài) thì người ta dùng ba con vật sống là Tam sanh (Trâu, Dê, Heo) để cúng Thần linh. Ngay thời vua chúa vẫn dùng những thức cúng ấy. Chứng tích Đàn Nam giao còn đó. Nhưng nay, thời kỳ Đại-Đạo có khác. Hãy nghe Thần Hoàng Mỹ Lộc vâng lịnh Đức Ngọc Đế giáng Cơ nói: “Ngọc Ðế và chư Phật, chư Tiên, chư Thánh mới lập hội Tam Kỳ Phổ Ðộ đặng có cứu vớt chúng sanh, đương linh đinh nơi biển khổ. Nếu gặp thuyền Bát Nhã mà không xuống, không theo thì chắc thế nào cũng chơi vơi mé biển. Còn phần viên chức sắc cúng tế, bảo lên quì trước đại điện cho Ta tỏ lòng thi ân cho chúng nó. Vui thay! Mừng thay ! Cả nhơn dân đều biết Ðạo, duy còn một chút ít mà thôi. Từ đây ta hết dạ hết lòng mà lo lắng, săn sóc chăm nom hơn khi trước nữa, Ta tỏ cho chức sắc hiểu, tại sao mà Ta lo hết bổn phận. Ấy là từ đây Ngọc Ðế truyền lịnh cho Ta phải theo phò chư Cao đạo hữu, nên Ta lo lắng bội phần, hơn khi trước; mỗi khi có việc chi tai biến hay là có những bịnh truyền nhiễm, thì đến đây Ta sẽ dạy cho mà lánh những điều tai hại. Còn việc tế Lễ Cúng, Ta muốn dùng đồ chay hay là cây trái, chớ sát sanh. Ta cũng tỏ cho chư Chức sắc hiểu rằng: Tế tự là tại sao? Phàm có lòng tin mới cúng chớ, cúng là lấy có lễ đó, gọi là kỉnh trọng. Chớ Thần, Thánh nào ăn của ai. Bởi thế nên ai dùng vật thực mà cúng, tốt hơn nên dùng trái cây. Ai có lòng thì tế lễ chi chi Ta cũng chẳng trách đặng, vì cựu lệ bày đến ngày nay. Nay ta muốn theo Thánh ý của Ngọc Ðế. Vậy chức sắc liệu làm sao?... Trả lời thử ? Cười…!”

&

QUẺ 243:

Nhược thị hữu duyên nhân, nhứt chỉ tiện hồi thủ,

Chấp mê bất ngộ giả, lũ dẫn dã bất tẩu.

       若 是 有 緣 人。一 指 便 回 首 。

執 迷 不 悟 者 。屢 引 也 不 走。

Dịch nghĩa:   Duyên may sẵn dợi người thành

Một khi lầm lỗi khá năng cải hồi

Chấp, mê trở bước trên đời,

Dẫu người có chí khó ai dắt dìu.

Chú giải: Thế nào là duyên may ?  Trong ngày nầy 27-01-1926, có Thất Nương Diêu-Trì Cung giáng cơ, Đức Quyền Giáo Tông hỏi: - Có duyên luyện đạo cùng chăng, xin Em mách giùm ? Đã gặp Đạo ắt có duyên phần. Ráng tu luyện, siêng thì thành, biếng thì đọa, liệu lấy mà răn mình. Phải sớm tính, một ngày qua là một ngày chết. Đừng dụ dự. Em xin kiếu”.

Điểm đặc biệt của Đạo Cao Đài khác hẳn với Phật giáo là: các tu sĩ Phật giáo sống nhờ vào sự cúng dường của nhơn sanh và sự khất thực của các khất sĩ. Các tu sĩ của Đạo Cao Đài chủ trương tự làm ra lương thực và của cải để tự nuôi sống mình mà lo tu hành, đồng thời có dư ra để làm các công việc từ thiện, cứu khổ nhơn sanh. Cơ Quan Phước Thiện đảm nhận nhiệm vụ quan trọng nầy, nên được gọi là cơ quan bảo tồn. Thế nên, những cơ sở Phước-Thiện như: Cô Nhi Viện, Dưỡng Lão Viện, Bảo Sanh Viện, Y Viện, Nghĩa thục... là thuộc phần trách  nhiệm của Cơ Quan Phước Thiện.

&

QUẺ 244 Nguyệt nhi thăng đông, thanh quang khả ấp

        Vạn lý vô vân. Hải thiên nhứt bích.

月 兒 升 東。 清 光 可 挹 。

萬 里 無 雲。海 天 一 碧 

Dịch nghĩa:  Vầng trăng lố dạng phương đông

Làu làu vẻ sáng dịu lòng muôn phương

Dặm dài không chút mây vương,

Biển trời một sắc bóng gương sáng ngời.

Chú giải:  Thánh ngôn rằng: “Màn Trời che lấp dấu trần, Ðạo Thánh dắt dìu bước tục, cuối hạ nguơn biết bao đời thay đổi. Trái cầu sáu mươi tám nầy bỗng nhiên có một lằn yếng sáng thiêng liêng để thức tỉnh khách phàm, chiếu dẫn người hữu căn hầu cứu khỏi họa Thiên điều, sẽ vì hung bạo của sanh linh mà diệt tận. Chới với biết bao người giữa lượn sóng trầm luân, mà con đường xô đẩy khách trần vào chốn đắm chìm hằng vẽ cảnh cùng sầu cho nhân loại. Ðường tội phước chẳng biết cân, gương dữ lành không để ý. Triền cao, vực thẳm, rừng trước, non xưa, cảnh vẫn đợi kẻ tìm về, nhưng giọng ai oán của khách lạc đường chẳng thế vạch trời xanh soi thấu. Nào nhân xưa, nào đức trước, nào sách Thánh, nào lời Hiền, trải qua chưa trăm năm mà cuộc cờ đời đã rửa phai hạnh đạo. Thế thì nhơn loại, nếu chẳng có mối huyền vi để nhắc chừng tâm tánh, sẽ vì mồi danh lợi, miếng đỉnh chung mà cắn xé giựt giành, giết hại lẫn nhau cho đến buổi cùng đường, rồi vì hung bạo ấy mà cõi dinh hoàn nầy chẳng còn sót dấu chi của nhân vật cả.

&

QUẺ 245:   Nam nhi nhược đắc phong hầu ấn,

      Bất phụ nhân môn tẩu nhứt biên,

      Công thành thân thoái,

      Yên hà tiếu ngạo thoát khước tử la bào,

Phương thị nam nhi đạo.

男 兒 若 得 封 侯 印。 不 負 人 門 走 一 邊。

功 成 身 退 。 胭 霞 笑 傲 脫 卻 紫 羅 袍 。

方 是 男 兒 道。

Dịch nghĩa:  Nam nhi đoạt ấn phong hầu,

Đường trần đâu thẹn mày râu chí hùng

Công thành hãy kíp lui chơn,

Cười vui ca hát giữa dòng nước mây,

Từ quan giải giáp hăng say,

Nam nhi là chí đạo thầy là duyên.

Chú giải: hai chữ “nam nhi” là biểu lộ một tinh thần cứng cỏi, một ý chí cương quyết, nếu chưa có được những đức tính ấy thì chưa thể gọi là “Nan nhi”.Vậy những từ sau này

Tuân Tử có viết một chương về Chính danh phát huy được nhiều điều mới, nhưng ông thiên về mặt hình pháp, còn Ðức Khổng Tử thì thiên về mặt đạo đức. Một nước thạnh trị thì trong nước, vua phải ra vua, quan phải ra quan, cha phải ra cha, con phải ra con, thầy phải ra thầy. Làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ trong gia đình phải tròn trách nhiệm của mình thì con cái mới cảm phục và vâng lời, gia đình mới có trật tự và nề nếp, mới thuận hòa và hạnh phúc.

Gia đình là căn bản của xã hội. Nếu giữ được gia đình yên ổn thì xã hội mới trật tự phân minh. Như vậy, Chính danh là căn bản trong việc chánh trị của người xưa.

&

QUẺ 246:

Tâm mục hồ tinh, mê hoặc thế nhân,

Thế nhân bất sát, diên cửu khuynh thân.

心 目 狐 猩。迷 惑 世 人。世人不 察。延 久 傾 身

Dịch nghĩa:  Ý tình ranh mãnh tựa hồ tinh

Mê hoặc người đời lắm vẻ linh

Nếu người không biết phân chân giả,

Điên đảo tấm thân khó nỗi gìn.

Chú giải: Con người trong cõi đời này không ai tránh khỏi ra ngoài bốn điều mầu-nhiệm của tạo hóa, đó là: sanh ra, lớn lên, già với bao nỗi khổ về bịnh, sau cùng là chết; Chính đó là bốn vấn đề khổ của con người.

            “Trong bí pháp của Phật Tổ, Ngài đạt đặng bí pháp, Ngài để trong khuôn viên giải-thoát chúng ta đã ngó thấy. Tại sao người khác Đức Chí-Tôn không để cho  tam diệu đề, chỉ có Phật Thích-Ca thấy Tam diệu đề, Ngài mới thêm vô một đề Sanh nữa là Tứ diệu đề (Sanh, Lão, Bịnh,  Tử). Đức Phật Thích-Ca nhờ Bí-pháp của Đức Chí-Tôn để trước mắt, Ngài đoạt được cơ quan giải thoát, có chi đâu !

Muốn tránh Tứ-diệu-đề tức nhiên Tứ khổ thì đừng gây NHÂN   có nhân tức nhiên có quả. Muốn tránh cho khỏi Bịnh tử thì phải diệt cho hết quả, lẽ dĩ nhiên đó vậy.            Xưa bí-pháp Đức Chí-Tôn đã cho Phật Thích-Ca thế nào thì Đức Chí-Tôn cũng có thể cho con cái của Ngài mỗi người để tự giải thoát lấy mình”.

&

QUẺ 247;

Mộ địa cuồng phong khởi, đại thụ tận hân dương,

Chi diệp vị điêu linh, bồi điền chung vô dạng.

驀 地 狂 風 起。 大 樹 盡 掀 揚 。

枝 葉 未 凋 零。培 填 終 無 恙。

Dịch nghĩa:  Đất bằng vụt nổi gió cuồng

Cây to gốc rễ bật luôn lên rồi

May còn cành lá xanh tươi

Sửa cành bồi gốc lần hồi tốt xinh.

Chú giải  Ngày nay nhân loại chứng kiến nhiều về “Đất bằng vụt nổi gió cuồng” nghĩa là thế nào ? Tại sao vậy? Chính do con người. Bởi con người gây nhân nên phải chịu quả thôi. Thử hỏi thế nào là Nhân-quả ?

           Chữ nhân hợp bởi bộ vi (vi là vây quanh, như một caí vỏ bao bọc) và chữ đại đặt bên trong (đại là lớn, nếu là lớn thì không có gì sánh bằng). Cái khởi điểm đã cho biết là lớn thì không thể lường được; ví như một diêm quẹt cháy là khởi điểm (là nhân), vô tình làm cháy cả khu rừng, làm tiêu hủy tài-nguyên quốc gia (là hậu quả). Cũng như khởi điểm của con người là một điểm tinh cha hòa với giọt huyết mẹ mà làm nên con người. Con người này lớn lên sẽ làm nên vũ-trụ, dựng xây hòa-bình, đem lại hạnh phúc cho muôn đời như các bậc Giáo-chủ của nhân loại: Thích-Ca, Jésus, Khổng-Tử…còn đó. Con người cũng có thể gây chiến tranh tàn diệt quả địa cầu bởi sức mạnh của nguyên-tử. Hình ảnh của Tần-Thuỷ Hoàng-Đế làm điên-đảo thế-giới…còn đó Hỏi vậy ta làm người nên chọn cái Nhân nào ? Nhân thiện hay nhân ác ?

&

QUẺ 248:

Hư nhựt vượng tướng, pháp tu yếu suy tầm,

Tứ vi tuyền nhiễu. Đối địch xung doanh.

虛 日 旺 相 。法 須 要 推 尋。

 四 圍 旋 繞 。對敵 沖 營。

Dịch nghĩa:  Ngày qua đã gặp duyên may

Tìm tòi cẩn thận thoát ngay hoạ nàn

Bốn bề tiếp xúc hỏi han

Đối tay kẻ địch mưu toan kịp thời.

Chú giải: Khi nói kẻ địch tức nhiên chính thân này tạo gây

nhân xấu. Nếu không xúc phạm đến người khác làm sao có thù ? Phải biết mình, biết người chứ

            Tất nhiên nhân thiện nên giữ lại, nhân ác đã chôn vùi trong quá khứ, nếu tất cả muốn có Hòa-bình thật sự, tức là không tạo nhân ác nữa, thì đâu còn cái cảnh tương tàn tương-sát nhau, đâu còn máu đổ thịt rơi, đâu còn cảnh huyết lệ dầm dề .Nhưng cảnh đời vẫn luôn trái ngược, ai cũng muốn sống hòa-bình, có ai muốn khổ, muốn chiến tranh đâu! Cũng bởi tại, bị, lý do này, lý do khác; tức nhiên cái Tâm nhân-ái, nhân-đạo, nhân-từ chưa thật sự đến trong tâm-linh của con người.Con người chưa biết mình tức nhiên chưa biết người; chưa biết mình, chưa biết người làm sao biết được trời, thế nên nhân-loại còn đau khổ. Nhân-loại đã phải chịu đau khổ lần này là do Thiên-điều nhắc-nhở, để thử xem cái mùi đắng cay đến mức nào ? Cái cơ đời đã như vậy rồi: Cái nguyên-nhân, cái duyên khởi đã rõ rồi:      “Mới sinh ra người đà khóc chóe,

               “Đời có vui sao chẳng cười khì ?”     

&

QUẺ 249:

Vinh khô tảo định anh sa thương.

Tân khổ địa an  hưởng gia hương,

Vị thân nhân tác giá y thường.

Kim nhựt quân thường.

Tha niên cải điệu biệt nhân thường.

榮 枯 早 定 英 磋 傷 。辛 苦 地 安 享 家 鄉 。

為 親 人 作 嫁 衣 裳。 今 日 君 嘗 。

他 年 改 調 別 人 嘗。

Dịch nghĩa: Thành bại riêng mình dám thở than

Khó khăn đất khách khó lo toan

Quê nhà an hưởng điều mơ vọng

Áo cưới vì người chăm chỉ luôn

Đã trót đáp tình nay hội ngộ

Ngày sau duyên đẹp báo ân dài.

Chú giải:  “Chúng ta vì một kiếp sanh thọ khổ trong tứ diệu đề, chúng ta chỉ mơ ước có một điều là: đoạt đặng huyền linh Bí-pháp. Trước khi thực hiện đặng Bí-pháp chúng ta phải có một Đức-tin mạnh-mẽ, đức-tin ấy phải đủ năng-lực trong tinh thần của Hội-Thánh.  Muốn có đức-tin vững chắc chúng ta phải có đức tự tín; có tự-tín mới đoạt đặng thiên-tín, tức nhiên đoạt đặng Đạo-tín của chúng ta. Muốn thấu-đáo và muốn đoạt cho đặng tự-tín, chúng ta phải tự biết chúng ta, rồi ta mới biết địa-vị đứng trong hoàn-vũ này đương đầu với vạn-linh, ngôi-vị ở trong hàng phẩm nào, chúng ta phải biết ta ở đâu mà đến; chúng ta mới hiểu con đường chúng ta sẽ về; bí-pháp sẽ dìu-dẫn chúng ta đi đến con  đường ấy. Cả tinh-thần nhơn-loại hiện giờ đang hoang-mang, giờ phút này họ chưa hiểu họ là ai, đến thế-gian này phải làm gì, ngày mai này khi xác thân đã vùi chôn trong nấm mộ hồn sẽ về đâu ! Hiển-nhiên ai cũng biết mình là  kết-quả của tinh cha huyết mẹ phối hợp mà thành. Thuở ban sơ chỉ là một điểm linh có sự sống, buổi nó tượng nhơn-hình của nó. Hỏi vậy cái sống của nó ở đâu ? Ai cho mà có ? Và cái linh ở đâu mà có ? .

&

QUẺ 250:

Nữ nhi đại hỉ lâm môn, giá lương nhân,

Thiêm tử tôn, đồng bái thụ, cảm hoàng ân.

女兒大 喜 臨 門 。嫁 良人。

 添 子 孫 同 拜受 感 皇 恩。

Dịch nghĩa:  Gái lớn cửa nhà mở tiệc vui

Kén chàng rễ tốt hiệp vầy đôi

Cháu con đông đảo nhà thêm phước

Cảm kính ân cao đức rạng ngời.

Chú giải:  Ngày vui của người con gái ngày xưa chỉ là ngày xuất giá, về nhà chồng. Nhưng ngày nay thì tất cả nghề nghiệp trong xã hội cả đến thế giới nữa đang chờ nam, nữ anh tài, chứ không riêng một ai. Thế mà, tiếc thay những nữ anh tài này ngày xưa bị yểm hết. Vì xã hội, gia đình không cho gái đi học có phải là một thiệt thòi lớn cho quốc  gia dân tộc không ? Từ sự dốt nát mới sinh vụng về, kém đạo đức. Nếu không có Bà Hương Thanh thì Nữ phái bị truất hết quyền hành rồi,nguyên nhân cũng do dốt mà ra

           Thầy phân phiền với bà Lâm Hương Thanh về Nữ phái: “Thầy lập Đạo nơi cõi Nam này, là cốt để ban thưởng cho một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thịnh nộ của Thầy, Thầy lại tha-thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo thiên lập địa, chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 này đặng vậy, cốt để ban thưởng các con thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các  nước khác sao! Ôi! Mà hại thay! Thảm thay! Đau-đớn thay! “Hòn ngọc” đẹp đẽ quí báu dường này Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu-căng, trề nhún, Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành-đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ-phái mà làm gì. Nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ, Thầy lại thương con  nên đã lắm phen lấy khảo trừ công  cho con trở lại phẩm cũ, bởi một lời đã hứa với Quan-Âm, Thầy mới nhứt định dành phần công quả ấy cho con. Con ôi! Thầy thấy con đau thảm bấy nhiêu, một phen lầm-lỡ lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm!"

&

QUẺ 251;

Mộc sinh hoả khẩu bất cấm, Phong điên tác chứng, Hàn nhiệt tương xâm.

木生火 口 不 禁 。瘋 癲 作 症。 寒 熱 相 侵

Dịch nghĩa:  Luật trời mộc hoả tương sanh

Có mồm phải nói làm câm được nào ?

Phong điên mắc bịnh tổn hao,

Nhiệt hàn làm dữ xông vào trong thân.

Chú giải: Chính đạo-giáo nhà Phật có nói con người  chúng ta là con kỵ vật để cho vạn-linh cỡi nó đi đường từ mặt địa-cầu này qua mặt điạ-cầu khác; mà con thú âý là người của chúng ta, mà người cỡi thú ấy là  Phật tức nhiên cái linh của chúng ta đó vậy. Hình ảnh của Đức Phật Thích-Ca cỡi con ngựa Kiền-trắc đứng trước Tòa-Thánh còn đó để cho ta thấm-nhuần cái lý Đạo: Phật cỡi con ngựa có khác nào như mọi người chúng ta đây đang phải chịu mang cái xác thú này, cũng đang chờ ngày chịu sự hủy diệt. Nếu không lo tu như Phật để giải-thoát còn chờ đợi điều gì? Bây giờ không phải thi hài này siêu thoát đựơc; thú là thú, sanh ra tại thổ hoàn về tại thổ,  còn người cỡi nó là Phật, cho nên không có quyền năng nào giam  hãm hay trói chặt linh-hồn này lại được. Phật ấy mới thật là con cái của Đức Chí-Tôn rước về, chính mình con thú mà vật lý-học đã nói là con thú có người cỡi, mà người cỡi ấy là Phật, là con đẻ của Đức Chí-Tôn. Ấy cơ-quan siêu thoát là Phật siêu thoát chớ thú  không  siêu thoát bao giờ !

QUẺ 252;

Hưu hưu hưu. Quá liễu tam niên hựu lục châu.

Bất mãnh tỉnh, Hoạ đáo đầu.

休 休 休 。過了三年又六 週。不 猛 省。禍 到 頭

Dịch nghĩa:  Dừng, dừng, dừng. Hãy dừng thôi!

Ba năm qua với sáu tuần rồi

Khó cảm nỗi niềm cho thông suốt

Hoạ nàn trước mắt biết sao vơi !

Chú giải: Tại sao ta phải cần tìm hiểu đến Tứ diệu đề khổ để làm gì ? Đời đã là biển khổ rồi, cho nên người khi đến thế-giới oan nghiệt này là đến biển khổ:-Một là vì căn kiếp quả nghiệp mà đến để giải quyết, trong vòng trái chủ, hoặc trả nợ, hoặc là đòi nợ. 2-Hai là đến đây để học hỏi mới mong tiến hóa thêm, bởi chính nơi thế gian này là môi trường học hỏi, không có nơi nào khác. 3-Ba là đến nơi này để làm thiên-mạng: dù là cơ quan Đời hay Đạo cũng vậy. Cái thiên-mạng ấy là lo cho đời, cho đạo ngày càng tươi sáng thêm. Xưa nay, biết bao nhiêu vị Giáo-chủ đã lãnh lịnh Chí-Tôn đến đây để làm thiên-mạng ấy, nhưng mỗi một đạo-giáo chỉ làm được mỗi một công việc mà thôi, như:   Hiền  vì  thương đời mà   đạt   cơ  tùng   khổ,

                  Thần vì  thương đời mà   lập   cơ  thắng khổ,

                  Thánh vì thương đời mà   dạy  cơ  thọ khổ,

                  Tiên  vì thương đời mà   bày  cơ  giải khổ,

                  Phật  vì thương đời  mà   tìm  cơ  thoát khổ.  

Nay là thời-kỳ cùng cuối, chính mình Đức Chí-Tôn đến chớ không sai con cái của Ngài đến như các lần trước nữa,

&

QUẺ 253

Hạm lan khởi hoả. Nghiệt súc tao ương,

Dự phòng đắc lực, giảm hoả thành khang.

檻 欄 起 火。孽 畜 遭 殃 。預 防 得力。減火成 康

Dịch nghĩa:  Đóm lửa ngoài hiên phải ráng gìn

E điều hoả hoạn chớ xem khinh

Đề phòng cẩn mật may ra khỏi,

Diệt lửa cho yên thoả nội tình.

Chú giải: Người chiếm quẻ này phải biết phòng xa. Chớ thấy điều thiện nhỏ mà không làm, cũng như chớ thấy điều ác nhỏ mà làm. Luật nhân quả chưa phân biệt điều lớn nhỏ. Phải kiêng luật trời mà sống cho phải đạo. Hãy xem:

“Đức Chí-Tôn sai các vì Giáo-chủ đến tạo Tôn giáo nơi mặt thế này chẳng phải cầu nhơn-loại thờ phụng Ngài, mà chính Ngài đến hay Ngài sai Người đến chỉ để tạo Đền thờ, thờ Đức-tin của nhơn-loại tức là tạo Đền thờ cho nhơn-loại thờ nhơn-loại, không phải thờ Ngài đâu” (thiêng-liêng hằng sống). Hôm nay Ngài đến với nhân-loại trong việc lập Tam-Kỳ Phổ-Độ là Ngài đến để giải quyết cho nhân-loại hai vấn-đề.  1- giải khổ phần xác thịt.

 2- giải khổ phần tâm hồn. Chúng sanh chỉ có tu là đắc Đạo để trong kiếp sanh này về được với Đức Chí-Tôn, tức là giải khổ cho chính mình và đồng thời để giải khổ cho nhân-loại, như Thầy đã hứa:

                      Thầy ban Đại-Đạo nên yên  dạ,

                      Đất dậy phong ba cứ vững lòng.

                      Gắng trả cho rồi căn quả ấy,

                      Tu mà cứu thế dễ như không .        

&

QUẺ 254:

Dĩ toại tâm đầu nguyện, thuỷ tri chí khí thân

Tam sơn tu bã ác, tần tần định thái bình.

已 遂 心 頭 願 。始 知 志 氣 伸。

 三 山 須 把 握。頻 頻 定 太 平。

Dịch nghĩa:  Toại thành tâm ý mong chờ,

Mới hay chí khí đến giờ phát dương.

Núi cao ba ngọn chớ thường,

Thái bình tự đến phải đường ước mơ.

Chú giải: Trong ba điều-kiện: Thiên-thời, Địa lợi, Nhơn hoà, là các yếu-tố quyết-định mọi công việc trong cuộc hằng ngày, nhưng nếu được thiên thời cũng không bằng địa lợi, còn nếu được địa lợi cũng không bằng nhơn hoà.   Xem thế thì yếu tố ở con người là yếu-tố quyết định mọi việc nên hư, đặng thất ở đời rất nên quan trọng; ở con người chỉ duy nhất có một chữ HÒA mà thôi. Chữ hòa là gì mà hệ-trọng dữ vậy? Trước nhất xét về mặt chữ nghĩa, Thánh-nhân khi đặt ra đều có dụng ý: Chữ Hòa gồm có hai phần: Bên trái của chữ, có chữ Hoà là cây lúa (lúa là nguồn sống để nuôi sống thể hài, là vật-chất; tức nhiên người cũng như vật “phải uống ăn nuôi sống thây phàm”

 Bên phải là chữ khẩu là cái miệng (miệng để ăn uống, đồng thời cũng là cơ-quan phát ra tư-tưởng, lời nói, là tượng-trưng tinh-thần. Miệng là cơ-quan để lập ngôn đó.

&

QUẺ 255:

Phúc tinh chiếu ánh, quế tử hương văn,

Mãn thiên tinh đẩu, quang diệu bức nhân.

福 星 照 映。 桂 子 香 聞。

滿 天 星 斗 。光 耀 逼 人。

Dịch nghĩa:   Phúc lành đã hiện trên cao

Quế thơm hương nức theo  màu hoa tươi,

Đầy trời sao hiện sáng ngời,

Muôn màu rực rỡ  người người soi chung.

Chú giải: quẻ này cho người chiếm nhiều niềm vui, có mệnh trời. Càng cao danh vọng càng dày gian nan. Nhớ:

“Phép của Trời có một, là thương khắp cả chúng sanh, nên định cho phẩm-vị hữu-hình và thiêng-liêng có một, nghĩa là phải tương đắc cùng nhau, đặng định quyết phép công-bình lành thăng, dữ đọa. Máy tạo bởi Chữ  Hòa mà có, thì thế-giới Càn khôn cũng phải Hòa mới toàn-hảo, nhơn-loại cũng phải Hòa  mới trường tồn, chẳng khác nào như xác thịt phải Hòa-thuận cùng linh-hồn mới mong đoạt Đạo. Lấy lớn mà định nhỏ, xem nhỏ mà tìm lớn, thi hài này nhờ Hòa khí mà thành hình, thì linh-hồn cũng phải tùng theo phép âm dương Hòa hiệp mới qui hồi cựu bổn; linh-hồn bởi chữ Hòa khí mới có đến, thì tức nhiên phải nương theo Hòa khí mới có về. Tuy pháp bửu của các Tôn giáo đã đoạt đặng vẫn nhiều, chớ cơ mầu-nhiệm chỉ có CHỮ  HÒA là đủ”.

&

QUẺ 256:

Đông nam địa tương lai tự cố khư, yên kế địa thương sanh, vô tồn tế nhược yếu đại phấn hùng tâm, thuỷ nguyên bất tri hà xứ.

東 南 地 將 來 自 故 墟。 燕 薊 地 蒼 生。

 無 存 濟 若 要大 奮 雄 心 。水 源 不 知 何 處

Dịch nghĩa:  Đông nam đất cũ nhuộm màu

Bãi hoang biến đổi ngày sau không ngờ

Đất cằn yên kế tiêu sơ,

Chúng sanh tan tác nhưng nhờ hùng tâm

Ý người chuyển lạc cơ thâm

Dạt dào dòng nước xa xăm cội nguồn.

Chú giải:  Điềm này ứng với câu chuyện: Trong cuộc sống vội vã, quay cuồng hiện tại, nhiều người đã mất đi niềm tin. Họ quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thoả mãn các nhu cầu vật chất vì chết là hết. Không có Thượng đế hay một quyền năng siêu phàm gì hết. Cách đây không lâu, một tờ báo lớn tại Hoa kỳ đã tuyên bố, “Thượng đế đã chết!”.Tác giả bài báo công khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng Thượng đế còn sống!. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm nghiên cứu Palomar cũng cho biết, “Tôi đã dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy Thiên đường hay Thượng Đế cư ngụ nơi nào?”.

            Ý tưởng trên đã biểu lộ hết tính chất của người vô thần. Vì họ cho rằng Thượng Đế đã chết, cho nên những năm vừa qua cho đến bây giờ nhân loại bị thiên tai, động đất, sóng thần, lũ lụt, sập hầm mỏ, cháy rừng, chiến tranh…không còn ai cứu chữa hết . Vì Thượng Đế đã chết!

&

QUẺ 257:

Tử hữu nhựt, sinh hữu thời.

Hà sự mạn trù trừ, phiêu nhiên nhứt vãng,

Tâm thượng vô nghi.

時。

事 慢 躊 躇 。飄 然一往。 心 上 無 疑

Dịch nghĩa:  Căn phần sống chết có định kỳ

Ngần ngại ích gì bận nghĩ suy

Bình thản đường dài chân nhẹ bước

Lòng không ngờ vực lý huyền vi.

Chú giải:  Chân lý chỉ có một. Dầu cho văn mình khoa học có từ chối cỡ nào thì chân lý vẫn là chân lý. Hãy suy:

Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự. Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào có thể chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy ra: Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm đầu sang thăm viếng nước Anh. Trong buổi viếng thăm đại học Oxford, vua Ranjit đã sai một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo sĩ này đã làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất cả mọi chất hoá học, kể cả những chất cường toan cực mạnh mà không hề hấn gì, ông ta còn nhịn thở hàng giờ đồng hồ dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y sĩ do Bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta còn chui vào một quan tài để bị chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn sống như thường. Đạo sĩ còn biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm khắc của các khoa học gia. Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa Học Hoàng Gia đã phải triệu tập một uỷ ban để điều tra những hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia tên tuổi được chỉ thị sang Ấn độ quan sát, sưu tầm, tường trình và giải thích những sự kiện huyền bí.

&

QUẺ 258:

Vãng lai hành tích xứ, thốt nhiên trước nhứt kinh, Sài lang nhược đương đạo, trảm diệt phương xứng tâm.

往 來 行 僻 處 。猝 然 著 一 驚 。

豺 狼 若 當 道 。斬 滅 方 稱 心。

Dịch nghĩa:  Lộ trình khúc khuỷu lại qua,

Lòng  thêm kinh sợ bóng ma chập chờn,

Chó rừng như gặp giữa đường,

Dạ toan giết bỏ khỏi thường phân vân.

Chú  giải: quẻ này ứng với lời bàn sau đây: Suy lấy:

Thầy dạy: Hành tàng do nơi Thầy mà thôi. Sự trắc trở chẳng qua là làm cho các con chịu nhọc thêm một thí  thôi. Nhưng nếu trong môn đệ đồng tâm chí như mấy con đây, thì đường đi của các con sẽ vui vẻ tươi cười, chẳng chi chinh lòng nhau đặng... Các con nên suy nghĩ. Cười! Thầy chẳng khi nào dụng những kẻ ấy vào nền Ðạo bao giờ. Than ôi! Tiền lớn, bạc nhiều, món ngon, vật quí hay xiêu lòng phàm phu. Của bất nghĩa kẻ trần còn chẳng chịu dùng thay!... Người Hàn Tín xưa, nếu chẳng trở lòng nạp bạn, thì chẳng bị thác vô cớ.Còn người Trương Tử Phòng, nếu chẳng Phạm Tăng cải Trời làm lếu, thì ân oán đền trả chẳng mấy hồi. Thầy đã nói các con phải chịu nhọc hơn một thí mà lướt mấy sự ấy có lạ chi. Các con nên hiểu.

&

QUẺ 259:

Bát môn phân bát vị, Cửu tinh bố cửu phương, thanh xích hoàng bạch hắc, ngũ  sắc quyển cẩm trang, giao phong đối luỹ, lưỡng lưỡng tương đương.

八 門 分 八 位。九 星 布 九 方。 青 赤 黃 白 黑 。五 色 卷 錦 裝。 交 鋒 對 壘 。兩 兩 相 當。

Dịch nghĩa:  Ngôi vi định phân tám cửa rồi

Chín sao chín hướng đã an nơi

Vàng xanh đỏ trắng đen  năm sắc.

Năm sắc chuyển xoay mảnh gấm trời

Đối địch khó phân ra thắng bại

Tương đương hai thế rõ hai nơi.

Chú giải: quẻ này khiến cho người chiếm quẻ được bình an. Hãy vững niềm tin ở lòng đạo đức cao độ, đừng phân vân, đừng nghi ngại, không ai hiểu được mình hơn đâu.

Thầy dạy: Nơi trần nầy, thiếu chi bực giả dối, các con có tin ai cho bằng tin cậy nơi các con? Nhiều kẻ dụng thế để cầu Thầy, chớ kỳ thật là chúng nó muốn tìm cách dòm hành mong các con lầm mà bại lộ cơ quan mật yếu mà thôi. Cơ mầu nhiệm đã định nơi Thiên thơ, Ðạo mở chủ ý dìu dắt những kẻ hữu phần, đặng rán cùng nhau dắt lên khỏi con đường trắc trở, vẹt nẻo chông gai, bước tận đến thang Trời hội hiệp cùng Thầy trong buổi chung qui, đặng cùng không do nơi tâm chí của các con. Thầy chẳng lẽ tỏ việc Thiên cơ cho cùng tận đặng. Tr... T... H... trách nhậm gần xong, công quả hầu mãn, nên mới xảy ra việc buộc ràng ấy. Nếu chẳng vậy, thì chúng nó chẳng khỏi một họa to đến bên mình. Ấy là Thầy cải cơ Trời mà cứu chúng nó đó. Sự yên tịnh và sự hòa bình là hai điều Thầy dụng mà gieo mối Ðạo. Biết bao lần sanh linh đã đổ máu vì Ðạo! Thế mà có thành được không? Thầy vì đó mà phải để cho các con chịu phiền não mà hành đạo cho vẹn toàn.

&

Quẻ 260:

Chung thân bất tập thượng, Tại thế khước uổng nhiên, luân hồi bất năng, Vĩnh lạc thâm khanh chỉnh.

終 身 不 習 上。 在 世 卻 枉 然 。

輪 迴 不 能 。永 落 深 坑 整。

Dịch nghĩa:  Suốt đời chưa lập nên công

Kiếp sanh phí uổng đời không cậy nhờ

Luân hồi chưa rõ huyền cơ,

Một giờ ngắn ngủi, phút giờ trôi xuôi.

Chú  giải: Đừng tự ty cũng đừng tự cao. Làm việc tốt tự nghe cõi lòng an nhiên. Chắc chắn có thiêng liêng phò trợ

Thánh ngôn: “Thầy để lời cho các con rõ rằng: đường Ðạo ngày hôm nay, các con đã tiến nhiều. Trách nhậm muốn cho hoàn toàn, cần phải bước qua mấy sự trắc trở mà đạt được mục đích cao thượng. Phần nhiều trong các con đã chịu lao tâm tiêu tứ vì lòng kính mến Thầy và vì chúng sanh mà toan độ rỗi, nhưng cũng có nhiều đứa dụng tà tâm mà làm cho có sự thán oán trong nền Ðạo của Thầy. Thầy đã lấy lòng từ bi và đức háo sanh mà dìu dắt các con thì Thầy chẳng dụng sự khinh trọng mà làm cho chinh lòng các con, chẳng lấy hành tàng bất chánh mà làm cho mất điều hòa nhã. Con một nhà đãi đồng một bực; đứa thua sút, yếu thế lại đỡ nâng dìu dắt nhiều hơn đứa thế trọng, sức nhiều.  Thầy cũng ghe phen muốn phạt những kẻ lấy bực phẩm của phàm mà gây nên rối rấm trong Ðạo, nhưng chẳng nỡ. Chúng nó đã bị Thánh Thần biên chép, ngày chung cuộc sẽ liệu tội phát lạc mà thôi.”

&

QUẺ 261;

Lưỡng cá tử nữ, Đồng đáo tề hành,

Âm dương hoà hợp, mưu tác hoan hân.

兩 個 子 女 同 到 劑 行 。陰 陽 和 合 謀 作 歡 欣

Dịch nghĩa:  Gái hiền hai kẻ sánh đôi,

Hai nghi đã rõ điềm trời âm dương,

Việc chi mưu tính liệu lường,

Thời cơ định sẵn tiện đường ước mơ.

Chú  giải:  Người chiếm quẻ nên suy lấy những lời này, trong trời đất đều có sự ứng hợp. Ngẫm kỹ, xét tường. Thấy dạy: Nguồn đạo đã gội khắp sanh linh mà nơi đây vẫn còn mơ màng trong mộng điệp. Nhân sanh chưa dễ thoát được cảnh trụy lạc ở cõi trần mê muội nầy: Lành ít, dữ nhiều, phước nhỏ, tội thêm, ấy chẳng qua ách nạn Thiên cơ đã sắp bày hành phạt. Con cũng đồng thương, nhưng khí số phải mang lấy về buổi sau nầy, Thầy cũng đau lòng mà nắm cơ huyền vi Tạo Hóa, Thầy hằng rõ chí hành tàng chơn đạo của các con, nhưng nhơn lực khó lướt qua Thiên Cơ, các con cứ đường ngay bước tới đợi ngày sẽ lập chút công trình để lướt khỏi lối gai chông, vẹt ngút mây xanh tìm vào cảnh thiêng liêng mà rửa sạch bụi hồng, khách trí nhàn đời ấy là buổi chung qui của bậc chí Thánh vậy. Xôn xao gió bụi, mờ mệt tuồng đời, mồi phú quí, bã công khanh, mấy kẻ biết nhuộm nâu sồng, lánh cả muôn sự não phiền mà khách trần đều gọi là vinh diệu. Thảm thay! mà cũng tiếc thay! Gió khuất thuyền đưa, nhạn về rừng cũ. Con đường đạo hạnh đợi buổi khuất dấu mờ mệt nét rêu phong mới sửa soạn lần chơn, âu dễ biết vô phần hay hữu phúc.”

&

QUẺ 262:

Trung hữu huyền cơ phú,Kê minh phương hiển lộ, Mãnh nhiên ngộ thiền quan. Đả phá quân môn lộ.

中 有 玄 機 賦 。雞 鳴 方 顯 露。

猛 然 悟 禪 關 。打 破 君 門 路

Dịch nghĩa:  Thi phú huyền cơ đã sẵn bày

Gà gáy năm canh hiển lộ thay

Lòng ngộ tham thiền thư thả dạ

Đánh tan danh lợi bụi hồng bay.

Chú  giảihãy nghe một Giáo sư người Anh Spalding đã cho biết  “Phương Đông có những chân lý quan trọng đáng để cho người Tây phương nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người Tây phương phải quay về Đông phương để trở về với quê hương tinh thần.” Đây là Quê hương tinh thần:

Các đấng nói:  lúc nầy đã đến buổi người hành khách phải trải qua một lối chông gai. Muốn bước khỏi, cần phải có bền chí tận tâm  và phải gắng xem đạo đức là trọng hơn muôn việc vui thích ở cõi trần nầy. Ðạo tuy gần thành, nhưng còn phải chịu nhiều việc trắc trở nữa, ấy là lúc các đạo hữu gặp một trường thi rất khó trong buổi rốt.  Sự phổ độ Thiên cơ đã định, sức người cũng khó lướt qua. Bần Ðạo chỉn để lời cho các đạo hữu rõ đặng lưu tâm mà hành sự, chớ con đường tuy chớn chở, triền núi vẫn khó qua, song ngọn đèn Trời đã chiếu tỏ mà dìu dắt các đạo hữu, thì nhiều ít gì rồi sau cũng đến chốn được. Hội Tam Giáo đương chầu Ðức Từ Bi định khai Ðạo cho khắp nơi khác đặng hiệp theo lẽ Trời cuối kỳ Hạ Nguơn nầy.”

&

QUẺ 263;

Sổ vỹ kim ngư thôn nhĩ ty  can, câu liễu hồi đầu,

gia thực phiên hiềm thái phí, ngũ hồ tứ hải du du.

數 尾 金 魚 吞 餌 絲 竿。 鉤 了 回 頭 。

家 食 翻 嫌 太 費。 五 湖 四 海 遊 遊。

Dịch nghĩa:  Cá vàng lặng lẽ nuốt dây cần,

Ngư phủ quay về thoả ước mong

Uống ăn thái quá sinh gian khổ

Bốn biển năm hồ trải chiếc thân.

Chú giải: Người chiếm quẻ nên suy qua câu chuyện này:

Ấn độ là xứ có rất nhiều Tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở nên một động lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn thường tự hào rằng văn hoá của họ là một thứ văn minh Tôn giáo và dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đã bảo trợ cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này. Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn độ từ Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn vẫn không thoả mãn hay học hỏi điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lập đi lập lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, Thần Thánh-hoá huyền thoại để đề cao văn hoá xứ họ. Đa số tu sĩ đều khoe khoan các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng xưng là hiền triết”  

&

QUẺ 264:

Mão nhật nhi xuất lâm, Ngọ thời chính phúc lâm,

Mão sinh ư Dần, phương kiến thiên tâm.

     出 林。午 時 正 福 臨 。

    卯 生 於 寅。方見 天 心。

Dịch nghĩa:  Sáng ngày giờ Mẹo chia tay,

Đến trưa: đúng ngọ, gặp ngay giữa rừng,

Lẽ trời Dần Mẹo tương sanh,

Mới hay duyên số định phân nhiệm mầu.

Chú giải: Theo lý số thì Dần Mẹo tương sanh (Dần là Mộc dương, Mẹo là mộc âm) ấy cũng là duyên số định phân cho sự hội ngộ này. Người chiếm quẻ  được phần hân hoan. Đời cũng vậy mà Đạo cũng vậy. Có sự tương ứng.  Thầy dạy: Ðạo Trời khai ba lượt, nguồn Thánh độ muôn người, thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay, mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi. Tạo Hóa đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ân huệ cho sanh linh, đương buổi hạ nguơn nầy. Ai là khách hữu phần, ai là người vô quả, tánh thiêng liêng đã vì công lý mà ra tay tế độ, vớt kẻ giữa bến trần, khá biết thời thế lần vào nương dựa bóng Thái Dương, để bước vào con đường minh huệ, tìm suối lặng, non Thần rửa chút bợn nhơ đã vì phong trào mê muội, mà cam chịu lấp kín gót trần.”

&

QUẺ 265:

Nhựt trung bất quyết. Nhựt đáo phương minh.

Nhứt trường hảo sự. Lục nhĩ đồng thành.

日中 不 決 。日 到 方 明 。

一場 好 事。 六 耳 同 成 。

Dịch nghĩa:  Trong ngày công việc chưa phân

Vầng dương sáng rõ muôn phần tỏ ra

Dịp may hiện đến đâu ngờ,

Thêm nhiều tai mắt đến giờ thành công.

Chú giải: Sự thành công phải dựa trên tài năng và sức lực. Người chiếm được quẻ này nên mừng vì đạo đức đủ đầy, gia đạo bình an, phần của cháu con được thịnh vượng.

Nên biếtlời Thánh ngôn rằng: “Thầy để lời mừng các môn đệ nơi đây có dạ kính thành và lo phận sự dìu dắt sanh linh bước vào nẻo chánh. Ðạo phát trễ một ngày, thì nhân sanh tội lỗi cả muôn ngàn, vì vậy mà Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu chấn hưng nền Thánh Giáo. Ðiều Thầy vui hơn hết, là muốn cho các con thương yêu giúp lẫn nhau, như con một nhà, phải đồng tâm hiệp chí, chia vui sớt nhọc cho nhau, nương đỡ dìu dắt nhau, đem lên con đường đạo đức, tránh khỏi bến trần ai khốn đốn nầy, mà cả muôn triệu sanh linh đã chìm đắm, vì mồi phú quí, bả vinh hoa. Thầy trông mong nơi các con, chớ nên vì chuyện nhỏ mọn phàm tục, mà bứt hẳn mối tương thân, tương ái, thì chẳng phải là đức tánh của tu hành đó.”

&

QUẺ 266:

Hồ túc thị yêu tinh.  Lang hầu cập thụ tinh.

Nhập sơn ngộ thử diệu. Mê liễu tính hoà tâm.

 狐 宿 是 妖 星。 狼 猴 及 樹 精 。

入山 遇 此 曜 。迷 了 性 和 心。

Dịch nghĩa:  Sao hồ vốn cũng thuộc yêu tinh,

Sói khỉ thay hồn cũng đáng kinh.

Vào rừng nếu gặp ngay điềm xấu

Mê hoặc tâm can lẫn tánh tình.

Chú giải:  Cảnh tượng này cũng như lời Thầy than rằng:

“Ôi! mà hại thay! thảm thay! đau đớn thay! "Hòn ngọc" đẹp đẽ quí báu dường nầy Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu căng, trề nhún. Thầy đã chán mắt thấy phái nữ hành đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập nữ phái mà làm gì. Nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ, Thầy lại thương con (1) nên đã lắm phen lấy khảo trừ công cho con trở lại phẩm cũ, bởi một lời đã hứa với Quan Âm, Thầy mới nhứt định dành phần công quả ấy cho con. Con ôi! Thầy thấy con đau thảm bấy nhiêu, một phen lầm lỗi lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm. Con coi đó mà coi, Thầy thương con là bao nhiêu ? Thầy giữ nữ phái lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến, Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành. Con là chị, Thầy đến lập Tam Kỳ Phổ Ðộ, chỉ vụ một chữ "HÒA", con liệu đứa nên, dùng đẹp lòng con kêu tên cho Thầy phán đoán. Tr...! con giúp em nghe!”

(1) Thầy nói với Bà nữ Đầu sư lâm Hương Thanh , làm đầu Nữ phái lúc bấy giờ.

&

QUẺ 267:

Trích lậu thanh, thôi nan xướng,

Toản hành nhân, Toại đội phóng.

Vãn độ quan tân, Tiền trình vô lượng.

          聲  催  難  唱

       趲  行  人  遂  隊  放

      晚  渡  關  津  前  程  無  量

Dịch nghĩa:  Nước rơi tí tách báo giờ qua,

Giục giã thanh âm khó nhận ra

Quan ải thẳng đàng tìm đến đích

Tiền đồ khôn hạn chẳng còn xa.

Chú giải:  Lời Thầy dạy:Ðời thắm thoát, thế gay go trăm năm thoát qua điều dâu bể, khách trần hỏi có bao nhiêu kẻ lấy danh phận đem vào cảnh tuyền đài, để nâng mình lên địa vị cao thượng đặng chăng ? Ngày xuân gần mòn mỏi khá sớm biết trau xuân, ấy là phương châm dẫn đàng khách phồn hoa vào nơi Cực Lạc. Thầy khen lòng thành kỉnh của con, rán độ dẫn sanh linh, ngôi cựu vị ngày sau chẳng mất”.

&

QUẺ 268:

Nhân tại thiên  nhai ngoại, Cửu phiếm tín âm lai,

Gia nhân tần vọng nhãn, Thảo mộc sướng hung hoài.

人 在 天 涯 外  。久泛 信 音 來

家 人 頻 望 眼  。 草 木 暢 胸 懷

Dịch nghĩa:   Người đi biền biệt chân trời,

Lâu ngày tin tức bao hồi chẳng thông.

Người nhà mỏi mắt ngóng trông,

Đoái nhìn cây cỏ thầm mong thấu tình.

Chú giải:  Giữa  người và trời thường có sự ứng hiệp nhau

Lời Thầy dạy: “Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục bước đến cảnh kim mã ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông mà vì đó thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng. Vậy gắng khổ tâm, giữ lòng đạo đức, mà vẽ bước cho đời sau, lập công quả đặng chờ ngày chung cuộc, phủi nợ trần ai đem tấm lòng thiện niệm đến Tam Giáo Ðài mà phục hồi cảnh cũ; rừng vắng non nhàn suối chảy tòng đưa, lánh chốn đọa đày đã bấy lâu ràng buộc. Cảnh gia đình phải tiên liệu,Thầy để lời con tua gắng chí”  .                                           &

QUẺ 269

Giá khoả thụ hạ, nhứt huyệt sinh thành,

Nhược thiên thử thượng, phúc lộc biền trăn.

這 棵 樹 下 一 穴 生 成

若 遷 此 上 福 祿 駢 臻

Dịch nghĩa:  Lên rừng tìm gỗ quí. Ruột gỗ sinh hốc to

Nơi đây là địa lợi. Phúc lộc trời dành cho.

Chú giải: Quẻ này tương ứng với hình ảnh của đất nước, người chiếm được  thỏa lòng. Niềm vui vừa chợt đến.

          Đấng Giáo chủ nói: “Vì chính nước Việt-Nam đã được Đức Chí-Tôn định là Thánh-Điạ thì tức nhiên nó phải có chút ảnh-hưởng của Đạo Cao-Đài quyết-định, không dựa vào hình-thức nào hay là chút ảnh-hưởng văn minh của một liệt cường nào cả. Vì sự tiền-định khéo-léo và cao trọng như thế mà Đạo Cao-Đài sẽ được vi-chủ về mặt tinh-thần để chấm dứt  cuộc chiến-tranh tàn khốc của hoàn-cầu.  Theo thế thường, đời càng gay mà muốn lập lại đời thái-bình thì phận-sự của Đạo lại càng thêm khó-nhọc và nặng-nề. Vậy các Thiên-mạng phải cố tâm trì-chí, đứng trọn trong khuôn-khổ Đạo thì mới được dễ-dàng để bước qua những trở ngại trên phận-sự mà thành-công một cách  mỹ mãn.  Các Em cứ đặt trọn Đức-tin nơi Đạo rồi thì mọi việc sẽ được như ý.”

&

QUẺ 270:

Cung canh lũng mẫu hình thần tự lao,

Vô cấu vô hệ, Kỳ lạc đào đào.

 耕  隴  畝 形  神 似 勞

 無  构  無  繫 其 樂 陶 陶

Dịch nghĩa:  Thân hành công cán nội đồng

Tấm thân mỏi mệt, riêng thần không an

Không điều dính líu buộc ràng,

Niềm vui toại nguyện chẳng màng gì hơn.

Chú giải: Đức Thượng Phẩm cho biết  Đời là một sân khấu hí-trường, mọi sự đều phải thay đổi, chớ nên lấy đó làm mục-phiêu chính để noi theo, vì đã nói rằng: một sân-khấu hí-trường thì trong đó đủ đào kép và ông bầu, dầu hay dầu dở thì bổn phận họ phải làm cho rồi để cho kẻ khác lên thay thế, đặc sắc hơn và hay-ho hơn. Hiện các Em đã thấy biết bao nhiêu màn đời  thay đổi liên tiếp mà những màn ấy cũng chẳng làm cho dân Việt-Nam được hưởng cảnh thái-bình. Càng thay đổi càng làm cho dân chúng Việt-Nam thêm hoang-mang, hồi-hộp và cảnh tương-tàn, tương-sát của Việt-Nam cũng chưa thấy giảm bớt chút nào mà lại càng tăng thêm cực độ. Các Em biết tại sao vậy không?

Đông dược

Không tìm thấy Feed

Tư vấn