Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 271 - Quẻ 300

Chuyên mục: Gieo quẻ

QUẺ 271:

Hoạ lai kiến quỷ, quỷ bịnh yêm triền,

    Kim dương đắc lộ, Thân thoát tai ương.

禍 來 見 鬼 鬼 病 淹 纏

金 羊 得 路 身 脫 災 殃

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng, đám cưới, cây và ngoài trời

Dịch nghĩa:  Hoạ nàn xảy đến quỷ dương oai

Đày đoạ tấm thân khổ dám nài

Dê vàng thắng lối cầm phương chắc

Gian khổ qua rồi khỏi nạn tai.

Chú giải: Trong vũ trụ này toàn cả vạn linh sanh chúng đều là con của Thượng đế,dù Phật dù ma cũng là con Ngài

Thầy dạy: “Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi chơn-linh Thầy mà ra, hễ có sống ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự sống, vì vậy mà lòng háo-sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng-sanh Thầy phân-phát khắp Càn khôn thế-giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái  đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm; nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hoá. Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa-sanh cũng vậy, đến thế này lâu mau đều, định trước, nếu ai giết mạng sống đều chịu quả báo không sai. Biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi  mà ra đến đỗi âý. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ, các con gắng dạy nhơn-sanh điều ấy

&

QUẺ 272:

Cấp khởi hành, cấp khởi hành.

Tiền đồ khứ kết đồng minh.

Chích thủ kích thiên trụ,

Sử sách hảo tiêu danh.

急 起 行 急 起 行 。前 涂 去 結 同 盟

    隻 手 戟 天 柱 。 史 冊 好 標 名

Dịch nghĩa:   Mau chân hãy kíp lên đường

Con đường trước mặt lo lường đến nơi

Kết giao bạn tốt đây rồi!

Một tay chống đỡ cơ Trời nước non

Uy danh rạng rỡ sử son.!

Chú giải: quẻ này tốt cho người chiếm được. Hãy mở rộng lòng từ bi đối với muôn loài vạn vật là hợp đức háo sanh của Thượng Đế. Còn gì hạnh phúc bằng, cũng như :  

Đức Hộ-Pháp nói rộng ra hơn về lý-do không sát sanh, là :

“Dầu cho một cái Bông, chúng ta chưa chắc là một vật, nếu chúng ta bẻ nó một cách vô lối, rủi phải nhằm một sanh mạng của Phật thì khó mà tu lắm! Con thú, chúng ta nói là một vật mà biết đâu trong nó là một vị Bồ-tát đương chuyển kiếp, nếu mình ăn thịt nhằm nó một ngày kia  nó về trển nó ngồi ngang mình, nó nhắc kiếp trước Phật có ăn thịt tôi, nhắc nội bao nhiêu đó cũng đủ mang bầu quảy gậy mà tái kiếp nữa. Chúng ta ngó thấy nơi thế gian này, hằng-hà sa-số con vật, mà biết đâu trong con vật lại có một vị Phật Bồ-Tát đương tái kiếp để tạo liên-đài, rủi thay ta ăn nhằm thì khó đạt vị lắm ! Vì cớ cho nên Đức Chí Tôn biểu chúng ta Trường trai là phải vậy  (TLHS /166)                                                                                                                                                                                                                               

&

QUẺ 273:

Thâm sơn cừ mãnh hổ. Hổ khiếu xuất sơn oa,

    Dương uy đẩu tẩu, Hà phạ nhân đa.

深 山 璩 猛 虎 。虎 嘯 出 山 窩 。

揚 威 抖 擻 。何 怕 人 多。

Dịch nghĩa:  Núi sâu cọp dữ khá kinh,

Tiếng gầm vang dậy lẫy lừng trong hang.

Dương oai phô sức ngang tàng,

Đức cao thần trọng khá an tâm thành.

Chú giải:  Đức trọng quỉ thần kinh. Ttrong câu chuyện của phái đoàn Hoàng gia Anh qua Ấn độ để tìm sự thần bí, ông nói “tư tưởng có một sức mạnh thần giao vượt khỏi thời gian và không gian. Thái độ của ông bạn là lý do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc Thánh kinh, “Hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm rồi sẽ gặp”. Đó là thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.” Đông Tây gặp nhau vậy

&

QUẺ 274:

Tam thiên môn tứ địa hộ,

Bố trận thành minh, tụ lộ quân,

Mã tề bôn minh cổ tấn bộ.

 天  門  四  地  戶

   布  陣  成  明  聚  路 軍

    齊  奔  鳴  鼓  進  步

Dịch nghĩa:  Trời dành ba cửa: Địa, thiên, nhân

Nam Bắc Tây Đông: bốn cửa thông

Trận địa ba quân bày sắp sẵn

Ngựa hồng đầy đủ trống cờ vang

Chú giải: quẻ này sẽ làm hài lòng cho người chiếm, vì hội đủ Tam tài (Thiên-địa- nhân), Tứ tượng, tam ngôi. Quá đủ đầy cho một thời vận tốt. Khác nào niềm vui được mãn nguyện  phái đoàn Hoàng gia Anh sang Ấn độ để sưu khảo về các hiện tượng huyền bí. Sau cùng được một người Ấn nghiêm nghị trả lời:

- Hãy đến Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hy Mã Lạp Sơn, các ông sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những người đã gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc đời cho sự đi tìm chân lý. Một số người đã thắng đoạt thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô hình ẩn tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về các quyền năng, phép tắc Thần thông thì các ông sẽ không thất vọng.”

&

QUẺ 275:

Sơn sơn sơn sơn, Thượng kiến mao am,

Bất tỷ nhân môn đống vũ,

Khước như thiên thượng vân nẵng.

       山 山 山 山 。上 建 茅 菴 。

   不 比 人 門 棟宇。卻 如 天 上 雲 曩

Dịch nghĩa:   Núi non non núi trập trùng

Lập ngôi am cỏ lánh vùng trần gian

Không màng cửa rộng nhà sang

An lòng tự toại sánh hàng cung mây.

Chú giải: Có được một tư tưởng thoát tục như vậy là tiên rồi, vì chữ tiên họp bởi sơn nhơn, tức là người ở bên núi, sống trong núi.Lại nữa có một âm tiên là trước, tức là người phóng khoáng, nghĩ trước cái nghĩ của thiên hạ, đó là trọng tâm của Nho giáo chính là CON NGƯỜI, một con người được định nghĩa như là «sức mạnh của trời đất, kết tinh của âm dương, giao điểm của quỷ thần, tú khí của ngũ hành.» Hơn nữa, ở nơi con người phần quan trọng nhất không phải là thân xác, mà chính là tâm thần. Vua Minh Mạng xưa cũng đã từng viết trong Huấn địch thập điều như sau: “Lòng là gốc con người, lòng chính đính thì muôn sự lành ở đó mà sinh ra, lòng bất chính thì trăm điều ác từ đó mà theo ra, há chẳng nên thận trọng hay sao?” (Thập điều II,I) Chính vì vậy mà điều quan thiết nhất đối với con người là giữ sao cho “tâm chính, ý thành” (lòng ngay, ý tốt) (Đại học)  

&

QUẺ 276:

Lai khứ nguyên vô định xứ, thời lai thời khứ.

An thân bạt thiệp vô ngu. Vinh nhục bất kế.

來 去 源 無 定 處 。 時來 時 去。

 安 身 跋 涉 無 虞 。 榮 辱 不 計

Dịch nghĩa:  Lại qua chưa định hướng đi.

Thời cơ dần đến yên bề tấm thân

Nhục vinh hai lẽ thường hằng

Liệu lường mưu kế chỉ tăng ưu phiền.

Chú giải: Lời chiếm này ứng với sự kiện lịch-sử của dân tộc còn ghi lại hai câu  với một nỗi xót-xa khó tả: 

              “Nhứt giang lưỡng quốc nan phân THUYẾT,

              “Tứ nguyệt Tam vương triệu bất    TƯỜNG ”

                。四月三

Hai câu này đã nói lên thời kỳ gần cùng cuối của triều nhà Nguyễn thật vô cùng nguy-ngập: chính-sự đang chịu cảnh lệ-nô của Pháp, đã lợi-dụng danh-nghĩa truyền-giáo vào Việt-Nam rồi biết bao biến cố xảy đến. Để đánh dấu những biến cố đó, sĩ-phu Việt-Nam có ghi lại đôi câu đối như trên. Ý-nghĩa câu 1-nói rằng một con sông (Hương-giang) chia thành hai nước: bên kia bờ là theo chế độ của triều đình Huế (Việt-Nam) nhưng chịu sự bảo-hộ của Pháp; còn bờ bên này là dưới sự thống-trị của quan Toàn quyền Pháp. Hai chánh sách, hai chế-độ khác hẳn nhau khó nói được nên lời (THUYẾT là nói). Câu 2- Bốn tháng mà thay đổi đến ba Vua, đó là điềm chẳng lành (TƯỜNG là điềm lành, như cát tường). Ba Vua đó là:

           - Một là vua KIẾN PHÚC, ông này ở ngôi được 6 tháng và mất ngày mồng 7 tháng 4 Giáp-Thân (1884) trong một trường hợp vô cùng thê-thảm.

           - Sau đó em Ngài là Vua HÀM-NGHI lên thay tức là Chánh-Mông, húy là Ưng-Lịch khi đó mới 12 tuổi. Những phong-trào kháng Pháp nổi lên dữ-dội, Vua Hàm Nghi lưu vong, kế bị bắt và bị lưu đày.

          - Pháp thấy khó bề dụ được Vua Hàm-Nghi trở về, nên lập Vua ĐỒNG-KHÁNH lên thay vào ngày 6 tháng 8 năm Giáp-Thân. Tính ra vừa tròn 4 tháng mà có đến 3 vị vua thay phiên nhau kế vị,  trong sự miễn-cưỡng bất bình.

&

 

QUẺ 277Hữu tử trưởng thành, thuỷ cục thời quá,

Đại phản phát phúc, bất tất quá ưu,

Tiên nhân tâm khổ bất túc.

有 子 長 成 。水 局 時 過 。

大 返 發 福 。不 必 過 憂煎 人 心 苦 不 足。

Dịch nghĩa:  Con trai đến tuổi trưởng thành,

Như dòng nước mát thuận dòng chảy xuôi

Phước nhiều hoạ tự qua trôi,

Lòng người đau khổ vì  đời gian truân.

Chú giải: làm trai trong gia đình đến xã hội có một trách

nhiệm lớn. Hãy nhìn trong nhà xem phần chống đỡ ngôi nhà có phải là cây cột cái không? Trách nhiệm và bổn phận làm trai là như thế ấy. Nhà lớn sức chống đỡ lớn, nhà nhỏ sức chịu đựng nhỏ. Không khi nào gọi rằng không có. Hãy tự soát mình có xứng đáng chưa? Nhà Việt Nam cũng như tòa nhà thế giới ngày nay bị lung lay khá nhiều đó, tai nạn động đất đã làm hàng triệu con người không nhà ở. Thử soát lại xem, từ ngàn xưa đến giờ chưa bao giờ kinh khủng như vậy. Đúng là “Tai trời gieo họa chẳng riêng ai”        

Thầy có nóiThầy lập Đại-Đạo kỳ này là lập một cái trường công quả, nếu các con  đi ngoài đường công quả ấy thì không trong mong gì về cùng Thầy đặng”.

           Trường Công quả của Thầy có đôi bên:

            - Một bên vô-hình là các Đấng thiêng-liêng (Thần, Thánh,Tiên, Phật) cũng lập công quả trong buổi chuyển  thế này. Các Đấng thiêng-liêng thường theo một bên chúng ta đặng ám trợ chúng ta về phần vô-vi,

           -  Còn các việc hữu hình tại thế là các việc phải có thi hài như chúng ta bây giờ đây mới đặng, thì về phần chúng ta phải lo làm, rồi có các  Đấng thiêng liêng ám trợ” 

QUẺ 278:

Hắc dạ lý, vật tiền trụ,

Nhứt hữu trị, yếu khan hoảng,

Lao lao ký, tu kết đảng.

黑 夜 裏 。勿 前 住 。一 有 值 。要 看 慌

 牢 牢 記 。須 結 黨

Dịch nghĩa:  Đêm hôm tăm tối khá gìn,

Những điều gặp gỡ nên kinh sợ dần.

Khá ghi nhớ kỹ lòng tin.,

Đường đời kết bạn tâm tình sớm hôm.

Chú giải: Trời đêm còn bóng tối, là chỉ cái âm u trong lòng chưa thoát. Sự tình còn rối. Hãy bình tĩnh, sáng suốt mới giải bài toán khó. Nếu có người bạn tốt có thể cũng hay cho lúc này.Việc nhà quáng, việc người sáng mà ! Khởi điểm từ tu thân mà ra cả. Hãy lập lại qui củ trong nhà đi là vừa. Nho giáo xưa nay rất chú trọng đến vấn đề giáo dục gia đình, vì theo Nho giáo bất cứ ai cũng phải tu thân, tề gia, rồi mới mong trị quốc, bình thiên hạ được. Gần đây có một số người sợ Nho giáo và cho rằng Nho giáo với một nền luân lý khắt khe, đã giam hãm con người vào trong những khuôn khổ quá chật hẹp, làm cho con người mất hết tự do, hạnh phúc. Quan niệm như vậy e không khỏi sai lầm, vì Nho giáo chân chính lấy DỊCH LÝ làm nòng cốt, thì dĩ nhiên phải uyển chuyển, linh động, biến hóa chứ không thể có những thái độ cố chấp, bất dịch được. Đối với chúng ta ngày nay, điều quan trọng là phải nắm vững được tinh thần Nho giáo, quán triệt được chủ trương Nho giáo. Mà chủ trương Nho giáo thời rất giản dị: Phải tìm cho ra những định luật thiên nhiên chi phối đời sống con người về mọi phương diện, để mà theo, để mà giữ, nhiên hậu mới có thể sống một cuộc sống hạnh phúc, xứng đáng. Tinh thần Nho giáo là một tinh thần cầu tiến: cố gắng hoạt động không ngừng để đem lý tưởng vào cuộc đời, làm cho cuộc sống thực tại dần dà trở thành một cuộc sống lý tưởng.          

&

QUẺ 279:

Trập long dĩ xuất thế, Đầu giác thủ sanh thành,

Vân hưng vũ trạch, Đắc tế thương sanh.

蟄 龍 已 出 世。 頭 角 首 生 成 。

                  雲 興 雨 澤 。得 濟 滄 生。

Dịch nghĩa:   Rồng ẩn lâu ngày lại hiện ra

Đầu sừng đầy đủ muốn vươn xa

Mây cao mưa gội nhuần ơn trạch

Tưới mát chúng sanh hưởng thái hoà.

Chú giải: Rồng ẩn là thời kỳ tu học, rồng hiện là đã đủ nanh vuốt rồi. Như một người Đạo mới nhập môn rồi học hỏi cho hiểu biết giáo lý, giáo pháp là nền tảng của đạo,  trọng yếu là vấn  đề “Giữ Đạo” Đức Qu. Giáo Tông nói:

“Kỳ Hạ-nguơn này là buổi hiệp Tam giáo làm một, hầu đem về căn  bổn cho hiệp lẽ tuần hoàn; Đức Ngọc Hoàng Thượng-Đế lại dùng huyền-diệu Tiên-gia giáng cơ giáo Đạo, thế thì chúng ta lấy làm hữu duyên, hữu phước mới sanh nhằm đời Đạo mở; muôn năm ngàn kiếp mới có một lần như vậy, nếu chẳng thành tâm tu niệm thì rất uổng cho cơ hội này lắm đó. Nhập-môn cầu Đạo là để làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, lập công bồi đức, cứu độ nhơn  sanh; chớ không phải vào Đạo để cậy lấy phần đông, rồi kết phe lập đảng mà ỷ thế hiếp cô cùng là xui mưu làm loạn. Kẻ vào Đạo chỉ mưu việc quấy như vậy là muốn gây rối cho nền Đạo tức là kẻ nghịch Đạo đó. Muốn “Giữ Đạo” cho tròn bổn phận, người nhập-môn rồi phải do theo “Tân luật”  lại cần phải “làm lành lánh dữ” và “trau giồi hạnh đức”.

&

QUẺ 280:

        Hoả thế huân thiên, thiên biên tận xích,

Ngộ thuỷ nguyên, thứ hữu để cực.

       。天

。庶

Dịch nghĩa:   Thế lửa bốc cao sáng tận trời,

 Chân mây rực đỏ ánh hồng tươi.

 Gặp được suối ngàn tuông nước chảy

 Công thành quả mãn khắp nơi nơi.

Chú giải: Lửa là điềm tốt, may mắn,sáng rõ như mặt trời lên.Công danh lợi lộc đến gần, nhưng cái công danh không cầu mà có, lợi lộc không mong mà đến thì hưởng đời đời không hết.Ấy là hạnh người tu biết “Làm lành lánh dữ”: Có người thuở nay không làm điều chi bất nhơn thất đức, cứ một lòng ăn thật ở ngay; như vậy có đủ gọi là “làm lành lánh dữ” không ? - Không đâu ! Người ấy chỉ có biết lánh dữ  mà thôi, nghĩa là chỉ có biết giữ mực công-bình của nhân-loại vậy thôi; chớ chưa có chi gọi là làm lành.           Muốn trọn hai chữ “làm lành” phải cứu nhơn độ thế. Kinh Phật dạy Cứu nhơn độ thế mà không giải rành là sao, thành ra nhiều vị tu-hành không để ý đến, chỉ biết có một phép Từ-bi thanh tịnh là gốc” Phải phụng sự vạn linh nữa  

&

QUẺ 281;    Hướng Nam hữu đại đạo.

  Thừa mã nhập Hàng thành,

Bất hoà ngô nhân xướng.

Cánh hữu nhất tri âm.

向 南 有 大 道。 乘馬 入 杭 城 。

不 和 吳 人 唱。 更有 一 知 音

Dịch nghĩa:  Phía Nam đường cái thênh thang

Hàng Châu ruổi ngựa tiến sang cổng thành

Kẻ Ngô không thuận hát vang,

Nhưng còn gặp gỡ được hàng tri âm.

Chú giải:  trong đời này nếu muốn thấy được tất cả là tri âm, phải biết  cứu nhơn độ thế . Phải làm thế nào?

           Cứu nhơn độ thế là cứu-cấp những người đang hồi khốn cùng, hoạn-nạn; ai đói mình cho ăn, ai khát mình cho uống, ai đau mình giúp thuốc, ai thác mình thí hòm, ai lạc nẻo mình chỉ đường, ai buồn rầu mình an-ủi, ai kiện thưa tranh chấp mình kiếm chước giải hòa; bắc cầu bồi lộ cho hành khách tiện bề qua lại; in thí kinh-điển, thiên-thơ  cho mọi người coi theo hầu cải tà qui chánh. Vậy mới gọi là cứu nhơn độ thế, song chẳng nên bất cập mà cũng đừng cho thái-quá. Bất cập là khi nào mình giúp cho người không trọn, có trước không sau, làm cho người sau rồi cũng phải khốn-cùng, hoạn nạn như trước vậy. Thái-quá là đụng ai giúp nấy, không xét coi kẻ ấy đáng giúp hay chăng ?  Vì ở đời lắm người  giả dối, quanh năm chỉ ỷ lại người nhơn-thiện mà no cơm ấm áo; giúp-đỡ cho những kẻ ấy là giúp cho họ dễ bề làm biếng, tiện thế ở không, tức là chưởng ác cho họ vậy. Vả lại cứu nhơn độ thế, phải tùy duyên tùy sức mới đặng: giàu cứu  theo phận giàu,  nghèo cứu theo phận nghèo. Theo lời giải trước kia; cứu nhơn độ thế có nhiều cách: có của thí của, không của thí công, của công ví đặng thiệt lòng, cân lại cũng đồng âm chất”.

QUẺ 282:

Hữu điền nhứt mẫu, Tẫn khả canh vân.

  Vô cùng thu hoạch, khước tại Tây thành.

有 田 一 畝 。儘 可 耕 耘

 無 窮 收 獲 。卻 在西 成

Dịch nghĩa:  Ruộng sâu một mẫu xới trồng,

Nhà nông canh tác ra công nhọc nhằn.

Đến mùa thu hoạch gia tăng,

Phương Tây hướng lợi người năng gắng tìm.

Chú giải: Với đạo pháp ngày nay hướng Tây là Cung Đoài ấy hiệp với Cung Đạo Đền Thánh, Đền Thánh là nơi chứa đầy Bí pháp, Đoài tượng trưng cái miệng tức là thực hiện tinh thần Phổ độ.Người đã biết thì ra phổ độ, giáo hóa nhơn sanh, người mới nhập môn thì lo Trau-giồi đức hạnh      

 Người giữ Đạo không những gọi  làm lành lánh dữ  là đủ, lại còn phải trau giồi đức hạnh thì nhơn cách mới hoàn toàn. Đức hạnh là điều cần nhứt của bậc tu hành. Thành Tiên, thành Phật cũng nhờ đức-hạnh, vì thuở nay chưa từng nghe có Tiên Phật nào mà không hoàn toàn đức hạnh: Thái Thượng khuyên lập Đức, Khổng Thánh dạy tu thân. Lập đức, tu thân là căn bổn của Tôn-giáo.  Muốn vẹn bề đức hạnh ngoài ra Đạo Tam cang, Ngũ thường ta lại cần phải giữ sao cho đặng khiêm-nhượng, nhẫn-nại, thuận-hòa, kiên-tâm, thanh liêm, thì mới gọi là khắc-kỷ, mới gấm ghé đặng phẩm Thần Tiên vậy”. Nghe thi:

                        Thường xem khí số biết Thiên-cơ,

                        Hết kiếp trần-ai cõi ở nhờ.

                        Mượn bút nghiên khuây khoa vẻ thảm.

                        Những là Bá-tước gánh đồ thơ.

&

QUẺ 283:

Vật hiềm nhi vô thần,  Tật túc truy bất cập,

Nạp nhập viên huyệt trung, tẩu cẩu hà xứ mịch.

勿 嫌 兒 無 唇 。 疾足 追 不 及。

        納 入 猿 穴 中 。走 狗 何 處 覓

Dịch nghĩa:   Không hiềm vì trẻ sứt môi,

Biệt tài nhanh nhẹn khó ai sánh bằng

Vượn không quen ẩn vào hang,

Sa chân gặp chó đuổi càn được đâu!

Chú giải: Những sự kiện như “chó đuổi càn” thường xảy ra trong đời cốt làm cho rối trí, tính không nên việc, gọi những thứ đó là ma chướng.Người bình tĩnh phải nhớ câu này, tư tưởng của La Mã: Chó sủa mặc chó, người bộ hành cứ đi”. Ma là một sự chướng ngại, thường làm cản trở công việc, ma còn là cây gai. Còn một thứ nữa gọi ma là những hình bóng chập chờn, khi ẩn khi hiện, loại này cũng đôi khi làm quấy rầy cho người ở cõi hữu hình không ít, có thứ nguy hiểm hơn gọi đó là quỉ, hay nói chung là ma quỉ; nói rõ ra thì phần thối trược là Ma, phần cao trọng là Phật. Thường, một công việc làm có những trở ngại gọi đó là một sự thử thách. Chính sự thử thách, người phải có đủ sức phấn-đấu mới vượt qua được; vượt qua được là thành công. Việc Đạo pháp nếu không thắng được các điều trở ngại ấy thì không thành việc lớn. Những công-án của Phật giáo có kể lại rằng; khi một người phát tâm tu hành thì quỉ khóc đến ba ngày. Vì sao? Bởi người không tu tức là bạn đồng-hành với chúng, bây giờ đi tu là tách ra khỏi bầy bọn với chúng rồi. Người Tu sẽ có ngày thành Phật, tức là ánh sáng khi bừng lên sẽ xua đi bóng tối, ma quỉ sẽ bị triệt, nên nó phải khóc là vậy. “Sự khóc thét, rống lên vang lừng

không ngớt là âm thanh của Ma quỉ sắp bị triệt hết rồi đó. 

&

QUẺ 284:

Lục ngưu canh địa, khẩn khai vô cương,

     Thu thành kết thực, doanh vị doanh thương.

六 牛 耕 地。 墾 開 無 疆 。

收 成 結 實 。盈 為 倉 盈

Dịch nghĩa:  Sáu trâu cày xới ruộng đồng

Đất đai canh tác không phân bến bờ

Đến ngày lúa chín vàng mơ,

 Thu vào đầy vựa đầy kho thoả tình.

Chú giải: con người có lục dục thất tình như đám cỏ hoang, trâu đến cày là mục đích diệt cỏ khai hoang đất. Trâu là hiện thân Bồ Tát, tức nhiên gần được ánh sáng thiêng liêng. Cày ruộng đây tức là ruộng tâm là tâm điền. Ruộng là nơi sản xuất lúa gạo nuôi sống xác thân. Ruộng tâm là nơi phát triển tinh thần đạo đức. Người ăn để sống. Sống để làm gì ? Sống để phụng sự vạn linh, mà phụng sự vạn linh tức là phụng sự Chí linh, là Trời đó vậy.

            Buổi ban đầu Đức Thượng-Đế vẫn để cho chúng sanh thử bằng mọi cách. Trước hết có một vị Yết-ma (bên Phật-giáo) không tin rằng có Thượng-Đế đến với nhân-loại  Ông viết sẵn bài thơ dấu trong tuí áo, đến hầu đàn; bài thơ:

                   Ấm-ức tâm tư suốt mộng tràng,

                   Có đâu Tiên, Phật xuống phàm gian.

                   Văn hay chữ giỏi bày thi phú.

                   Họa được thơ đây mới Ngọc-Hoàng !

           Thừa lúc âý trong đàn nội có Đức Chí-Tôn giáng, Ngài liền hoạ lại ngay:

                   Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng.

                   Đời cùng  Tiên Phật xuống phàm gian.

                   Chẳng ai hay giỏi bày thi phú .

                   Chính thật TA đây ĐẤNG NGỌC-HOÀNG

&

Quẻ 285:

Đại phấn xung thiên chí.

Vật khổ huyến gia hương.

Thất bát quân hành tảo.

Dương vũ tại sa trường.

大 奮 沖 天 志 。勿 苦 戀 家 鄉

七 八 君 行 早 。揚 武 在 沙 場

Dịch nghĩa:  Chí khí vút cao đến tận trời,

Đừng vì gian khổ luyến quê thôi.

Hãy sớm lên đường theo số định,

Chiến trường dụng võ lẫn dương oai !

Chú giải  Con người sử dụng hai thứ oai võ: oai võ dùng trong chiến trường sát phạt, oai võ đạo đức thắng tà tâm.

Chương Thuấn điển, Kinh Thư cho chúng ta thấy các bậc Thánh Vương xưa lo lắng dạy dỗ cho mọi người biết nhân luân, tức là dạy cho mọi người biết các bổn phận giữa:

 Vua tôi- Cha con- Vợ chồng- Anh em- Bạn hữu .Mạnh Tử nhận định như sau: “Làm người ai cũng phải theo đạo lý, chớ như đã được ăn no mặc ấm, ở yên mà chẳng có giáo dục, thì gần với loài thú rồi đó. Cho nên bậc Thánh nhân (tức vua Nghiêu, vua Thuấn) lấy làm lo lắng về việc ấy. Hai Ngài bèn cử ông Tiết làm quan Tư đô (tức là Tổng Trưởng Giáo-dục) giao phó cho công việc giáo hóa cho dân chúng biết ăn ở theo nhân luân:

 * Giữa cha và con có tình thân ái. “Phụ tử hữu thân”

* Giữa vua và tôi có tình nghĩa. “Quân thần hữu nghĩa”

* Giữa chồng và vợ có sự phân biệt. “Phu phụ hữu biệt”

* Giữa anh và em có thứ tự. “Trưởng ấu hữu tự”

* Giữa bạn bè có niềm tin cậy. “Bằng hữu hữu tín”

Các vua chúa xưa kia của nước ta đã bắt chước gương Nghiêu Thuấn lo dạy dân theo đúng nhân luân chi Đạo.

 Đức Thượng Đế cũng chủ trương Nho Tông chuyển thế:

            Gương Đạo noi theo đời Thuấn Đế,

            Đế dân vẹn giữ lối Văn Vương.

            Vương hầu lê thứ ai là chí?

            Chí quyết làm cho thế khác thường.!

&

QUẺ 286;

      Quì hoa hướng nhựt, trung diệc khuynh tâm,

Đại khai quảng hạ, Lạc hưởng thái bình.

葵 花 向 日 。忠 亦 傾 心 。

大 開 廣 廈 。樂 享 太 平。

Giải nghĩa:   Hoa quì một dạ hướng dương,

Tâm thành ngưỡng mộ, trung can tấc lòng

Nhà cao cửa rộng huy hoàng,

Thái bình vui hưởng, thư nhàn chiếc thân.

Chú giải: Hoa quì còn có tên là hoa hướng dương, tức nhiên cành hoa to lớn như cái dĩa, mà nó luôn xoay theo hướng mặt trời. Nói chung loài cây cỏ, hoa lá, thì phần trên nó thuận theo hướng mặt trời, để hút lấy ánh dương, gọi là quang hướng động thuận.Còn phần rễ luôn bám theo

đất như đứa con tìm về vú mẹ, đó là địa hướng động nghịch. Nó tìm Đạo, nó biết lẽ âm dương để sinh tồn trong cuộc sống có trật tự tức nhiên nó biết lễ, vì lễ là trật tự. Kinh Lễ qui định những luật thiên nhiên chi phối đời sống con người, qui định nhân luân, qui định thuần phong mỹ tục, cho nên tất nhiên phải chú ý đến gia đình. Lễ có mục đích đem lại sự hoà thuận cho mọi người, Lễ nghĩa qui định điều hay, điều phải cho con người, nên rất cần yếu. Lễ dạy cho người biết đức hạnh thực sự, hoà thuận với người. Lễ giúp cho xương thịt con người trở nên cứng cát, rắn chắc, dạy con người cách nuôi người sống, chôn kẻ chết, thờ thần minh. Nhờ Lễ như là một cửa lớn mà con người tìm ra được Thiên đạo, sống thuận với nhân tình. Vì thế mà Thánh nhân cho rằng cần phải biết Lễ. Quốc phá gia phong, nhân tâm ly tán, chính là vì con người đã không  biết sống theo định luật của trời đất, của nhân sinh.. Lễ Ký rằng: muốn sống cho hay mọi người phải biết cách cư xử cho đúng ngôi, đúng vị của mình: Vua minh, thần trung. Cha từ, con hiếu. Anh trưởng, em kính,;chồng nhường, vợ  thuận. Người lớn phải thi ân, người nhỏ phải vâng phục. Thế nên Thánh nhân nếu muốn trị thất tình con người, tu thập nghĩa, giảng dạy chữ Tín, tài bồi chữ Hoà, đề cao sự nhường nhịn, loại trừ sự tranh đoạt, mà không dùng Lễ thì lấy gì mà trị người?”

&

                     QUẺ 287:

Nhân bất thức Tiên, na hữu chân quyết.

  Nhứt nhân huyền môn, Tân tân hữu ích.

人 不 識 仙 。那 有 真 訣 。

一 人 玄 門 。津 津 有 益

Dịch nghĩa:   Người đời mấy kẻ nhận ra Tiên

Chân lý phải đâu dễ kiếm tìm ?

Cửa Phật gắng công gian khổ luyện

Mới mong giải thoát độ nhân duyên.

Chú giải:  Người tu là muốn thành Phật. Vậy Phật là gì ? Phật làm gì? Phật sống ra sao ? Trước hết thấy chữ Phật gồm chữ nhơnlà người, phất là quét. Là người đã giũ sạch bụi trần, lòng trong sạch, thanh cao. Trải qua giai đoạn này không phải dễ. Kế đến nên biết Phật làm gì? Tức nhiên Phật là người phải tìm phương giải khổ cho chúng sanh phần xác thịt, giải thoát cho chúng sanh phần linh hồn. Phật sống ra sao?Triền cao núi thẵm, động vắng hang sâu; lòng bất nhiễm, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thánh-nhân nhận định rằng trong xã hội có ba hạng:

            - Không dạy mà biết, nếu không Thánh thì còn gì?

            - Dạy rồi mới biết nếu không Hiền  còn gọi là gì?

- Dù cho có dạy mà cũng không biết được, không phải ngu thì còn gọi là gì ?  Như thế đối với người “dạy rồi mới biết” thì những lời của Thánh-nhân như huấn-ngôn, đạo-đức ngôn, chơn chất-ngôn rất cần thiết cho vấn đề lập chí lắm vậy.Trong việc lập chí cần yếu là sự Kiên nhẫn..

&

QUẺ 288:  

Vật vị thuyết thoại thái trầm,

Nê liễu tựu bất thành chân.

Ngộ xuất thiên ban dữ diệu.

Phương thức Tiên đạo tối thần.

勿 謂 說 話 太 沈 。泥 了 就 不 成 真

悟 出 天 般 與 妙 。方 識 仙 道 最 神

Dịch nghĩa:   Ngại rằng lời nói quá cao sâu

Cố chấp không phân được lẽ mầu

Tự giác muôn ngàn phương diệu lý

Mới hay đạo sẵn Đấng Tiên Thần.

Chú giải: Quẻ này ứng vào Kinh Xuân Thu. Mục đích chính yếu là phục hưng nền Vương đạo.Tuy nhiên không vì thế mà xao lãng vấn đề gia đình. Mạnh Tử nói: Thế đạo suy vi, tà thuyết bạo hành nổi dậy. Những chuyện tôi giết vua, con giết cha xảy ra thời thường. Đức Khổng sợ, nên viết Xuân Thu, cốt là để “chính nhân tâm, ức tà thuyết” đánh đổ những nét bất công, hài tội những bọn loạn thần tặc tử, làm cho chúng kinh sợ.  Cốc Lương Xích viết: Thời thì bắt đầu từ Ẩn Công; sách gồm sự hóa dục của âm dương; giải thích sự biến hóa của nhân tình, thế thái; làm sáng tỏ lẽ đắc thất, thành bại và lấy đó làm phương châm cho lời khuyến dụ; cố cứu vớt sự suy vong của cương thường, để mà nối tiếp đạo của Ngũ Đế, Tam Vương thủa trước. Một lời khen quí hơn là tặng áo cổn hoa. Một lời biếm trách nhục hơn đòn đánh nơi triều thị. Ai giúp cho đạo đức thời dẫu ti tiện cũng đề cao; ai làm sai nghĩa lý, thời tôn quí cũng hạ thấp. Cho nên những kẻ ỷ quyền thế, dấu diếm những điều tà ngụy, gian manh, thời không thể trốn thoát được tội tình. Quả thật, Xuân Thu có chủ trương: Quí nhân, trọng đức, sùng đạo, ức tà, hoành dương đường lối của Tiên vương là vậy

&

QUẺ 289:  Công danh tuy đa thực tế.

Hà như tu luyện thành chân.

Chân thân bất hủ, vạn tải trường xuân.

功 名 雖 多 實 際 。何 如 修 煉 成 真。

真 身 不 朽 萬 載 長 春。

Dịch nghĩa:  Thực tế công danh quá đủ đầy

Sao bằng vun đắp đức cao dày

Lý chân chỉ một không mê muội

Trẻ mãi như xuân chẳng đổi dời.

Chú giải:  câu “có thực mới giựt được Đạo” hầu hết nói rằng phải có ăn đủ đầy mới làm việc đạo được, không có cái ăn, cái sống thì chưa làm việc đạo. Chỉ đúng một phần ba mà thôi. 1-Thực nghĩa là ăn. 2- Thựccòn nghĩa phải thành thực nữa. 3-Thực nghĩa là gieo trồng.Chỉ ba chữ thực như vậy nắm vững vào tay thì chính là hiệp đủ Tinh- Khí-Thần. Có ăn để sống: Thực là Tinh, nhưng phải sống thực (thực là thành thực ấy thuộc Khí). Thực là gieo trồng ấy là chủng đức (thực này thuộc về Thần).Lòng người còn chơi vơi khiến Thầy phải than:

“Các con hiểu Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định chạy sao cho khỏi ? Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn. Từ khai Thiên lập điạ, Thầy cũng vì yêu mến các con mà  trải bao nhiêu điều khổ-hạnh, mấy lần lao-lý, mấy lúc vang mày, nuôi-nấng các con hầu lập nền Đạo;  cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải-tà qui-chánh. Mấy lần vun đắp nền Đạo, Thầy cũng đều bị các con mà hư giềng Đạo cả. Thầy  buồn đó các con”.

&

QUẺ 290:

Tẩu tẩu tẩu, ngộ nhứt cẩu,

Cấp tư tầm, khả trường cửu.

走 走 走。 遇 一 狗 。

急 思 尋 。可 長 久

Dịch nghĩa:   Nhanh chân hãy kíp nhanh chân,

Giữa đường gặp chó đuổi càng nguy hơn.

Gắng lòng thực hiện chung tầm,

Công trình thụ hưởng nhiều năm vững vàng.

Chú giải: Sự thụ hưởng nằm trong chữ LỢI. Lợi có nhiều cách, hầu như tất cả đều muốn hưởng lợi. Hãy nghe lời Đức Hộ-Pháp thuyết: “Nhắc lại Thầy Mạnh-Tử khi qua yết kiến vua nước Lương Ông Huệ-Vương hỏi Đức Mạnh Tử. Lão già chẳng nệ đường xa muôn dặm sang đến nước Quả-nhân có chỉ giáo điều chi hữu lợi chăng ?

           Thầy Mạnh-Tử đáp rằng: Tôi chỉ biết nói đến Nhơn Nghĩa mà thôi, chớ không nói về lợi. Nếu trong nước mà dục vọng về sở lợi, thì đình-thần có trăm  hộc lại muốn có thêm ngàn hộc; Thượng Hạ Đại-phu có ngàn hộc lại muốn có muôn hộc, còn vì Thiên-tử đã có dư muôn hộc lại muốn có thêm triệu hộc. Nếu trong nước mà cầu lợi như thế, thì bá tánh phải chịu lao-lung, muôn dân đồ thán, trong nước thế nào bình trị được?  Còn như trong nước biết chú-trọng Đạo Nhân-Nghĩa, thì toàn thể quốc-dân đều chung hưởng mọi điều hạnh phúc, lạc nghiệp âu ca. Thầy Mạnh-Tử thuyết-minh đủ mọi điều lợi, hại rồi thì Vua Huệ-Vương mới chịu nạp dụng”

&

QUẺ 291:

Bất tri chân tiêu tức,

Tiêu tức mộ địa lai.

Nguyệt viên nguyệt khuyết dạ.

Bất hứa bã môn khai.

不 知 真 消 息 。 消息 驀 地 來 。

月 圓 月 缺 夜。 不 許 把 門 開。

Dịch nghĩa:  Tin thư xác thực biết đâu là

Từ  chốn xa xăm mới nhận qua

Xoay chuyển trăng tròn rồi lại khuyết

Chưa nên mở rộng lối vào nhà.

Chú giải: Thầy dạy:  “Hiện nay là buổi kim tiền, ưu thắng liệt bại, mạnh được yếu thua, khôn còn  dạy mất, con người trên mặt thế đều bôn- xu theo quyền lợi chẳng kể gì Nhân-nghĩa, đạo-đức, tinh-thần, nên mới có nạn chiến tranh, tương-tàn đồng chủng, giết hại lẫn nhau, hằng ngày diễn  ra nhiều tấn- tuồng thảm thương, bi kịch, xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, khiến cho giọt lụy  thương tâm của khách ưu-thời mẫn -thế không thể nào ngưng được.           Chức Sắc trong Đạo đem hột giống Nhân-Nghĩa gieo khắp các nơi mà nhơn sanh không ưng nạp bởi họ không biết cái năng lực của họ mạnh-mẽ thế nào, không cần để ý đến, chớ chi họ trọng dụng Đạo Nhân-Nghĩa thử một thời gian coi có hiệu quả gì chăng ?.

            Thánh-giáo  của Đức Chí-Tôn dạy về chữ NHƠN ..

                        NHƠN  là đầu hết các hành tàng.

                        Cũng bởi vì NHƠN  dân hóa quan,

Dân trí có NHƠN  nhà nước trị,

                        Nước nhà NHƠN thiệt một cơ quan

 Ngày nào toàn thể quốc-dân Việt-Nam mà biết thực-hành hai chữ NHÂN-NGHĨA  cho ra thiệt tướng, thì chẳng luận là xã hội nào cũng được hưởng mọi điều hạnh phúc, đời chiến-tranh sẽ trở nên đời thái-bình an-cư lạc nghiệp”

&

QUẺ 292:

Hoả vượng xứ, yếu bất bì,

Thuỷ thâm xứ, an bất ngốc,

đáo đầu đương chước lượng, vô đắc nhạ tha tai.

火 旺 處 。要 不 疲 。

水 深 處 。安 不 呆 。

到 頭 當 酌 量。毋 得 惹 他 哉

Dịch nghĩa:   Thế lửa càng cao gắng sức thêm,

Nước về vực thẵm phải đâu hèn

Việc đến kiên lòng lo liệu chắc

Phòng ngừa tai nạn luỵ thân riêng.

Chú giải:  Lửa nước là hai thứ tối cần trong cuộc sống, tương khắc mà lại tương hòa, tương sanh cũng là tương diệt. Trời dành cho nhân loại sự sống đủ đầy như vậy là vì Trời thể hiện bốn đức: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Người cũng nương theo Trời nên có 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí.

Người mà biết thi-hành việc Nghĩa đúng mức phải học:

“Giáo dục trước hết là giáo dục cá nhân, cho nên một khi công cuộc tu thân đã đào luyện cho con người có những tập quán tốt như bác học, thẩm vấn, thận tư, minh biện, độc hành (Trung Dung XX, 19) một khi cái Minh Đức đã tỏa sáng thì trật tự gia đình sẽ chỉnh tề, những hành động thân dân sẽ làm cho nền chính trị quốc gia được ôn cố. Bởi vậy cổ động tinh thần sùng chí học (điều 7 trong Huấn địch Thập điều), vua Thánh Tổ đã xác định: “Sở dĩ học là học làm người, cho nên không thể có một người vô học trong thiên hạ, cũng như không thể sống một ngày mà không học…Trẫm mong triều thứ các ngươi tôn sùng chính học, giảng minh nhân luân, đạo Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu đễ mà thôi, giáo dục Khổng Mạnh, chủ trương nhân nghĩa trước hết.”

&

QUẺ 293: Tân nhạn nhiễu hồ, địa thành lục hành,

Kiến công huân, tảo hồi trình.

               賓 雁 遶 湖 。地 成 陸 行 。

    建 功 勳 。早 回 程

Dịch nghĩa:  Nhạn lượn quanh hồ. Đất bằng lập trại,

Lập được công to, Sớm ngày trở lại.

Chú giải:  Cuộc sống con người có hạnh phúc hay chăng là trước tiên phải lập một đức tin cho vững vàng. Đức Hộ pháp dạy trong phương luyện kỷ: “Đức-tin và khôn ngoan là kho chí bửu, ngoài ra là của bỏ, là đồ vô giá. Thật vậy,

trong các đức tánh, chỉ có Đức tin và sự khôn ngoan mới là kho tàng quí báu. Đức-tin là một sức mạnh vô hình do tư-tưởng tập trung hướng vào một mục-đích, một chủ nghĩa, một cảnh giới vô hình để đoạt một kết-quả, một chân-lý siêu việt. Đối với Đạo-Giáo, có một đức-tin mới có cảm-ứng, có sự cảm thông giữa các Đấng Vô hình và loài người. Vì Thượng-Đế là Chí-Linh, chúng sanh là Vạn-Linh, nhờ Đức-tin hay Tín-ngưỡng mà Vạn-linh hiệp được Chí-Linh. Cho nên, có câu: “Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên Địa tất giai tri”. Đức Hộ-Pháp có định-nghĩa “Tín-ngưỡng: Tín là tin, ngưỡng là cậy.         Tín ngưỡng tức là tin cậy theo nghĩa thông thường tiếng Việt từ xưa đến giờ. Ngày xưa, thời gian phong-kiến, danh-từ Tín-ngưỡng có nghĩa là tin cậy với sự thành kính một Đấng Đế-Vương, hào-kiệt nào. Đối với Đạo-Giáo, ý-nghĩa càng thêm cao trọng, người ta cho nó là cái Đức, gọi là “Đức-Tin”. Con người cần có Đức-tin, nếu không, chưa hề làm xong bổn phận con người. Đức-tin có hai hình-thức: Tha-tín và Tự tín. Tha-tín là mình tin nơi người, dầu người có định hướng nào buộc mình phải tin. Còn Tự-tín là ta biết lấy ta, hiểu sở-năng và tin cậy lấy ta. Các vị Giáo-Chủ như Đức Thích-Ca, Đức Lão-Tử, Đức Chúa Jésus Christ, Đức Khổng-Tử dùng tự-tín là đem giáo-lý của mình hiệp với tha-tín là giáo-lý và phương-pháp của các vị có trước như: Đức Brahma, Civa, Krishna, Đức Hồng-Quân Lão Tổ, Thánh Moise mà truyền giáo”

&

QUẺ 294;

Thiên thượng phong, thiên biên nhựt nguyệt.

Bạch phong thanh, lưỡng lưỡng tương đương.

天 上 風 。天 籩 日 月 。

白 風 清 。兩 兩 相 當

Dịch nghĩa:  Trời cao lồng gió mát

Nhựt, nguyệt sáng chân mây.

Gió lành thêm mát mẻ

Song song lợi ích đầy.

Chú giải: Quẻ này ứng vào lời Đức Hộ-Pháp ban Huấn dụ

         “Hôm nay đến giai-đoạn định quốc, Thầy sẽ ban cho các con một phận sự yếu-trọng mới mẻ, phận-sự này khó khăn nguy hiểm hơn trước kia nhiều lần. Muốn cho cả tinh-thần của chiến-sĩ Cao-Đài thống hợp lại làm một khối  tinh-trung cứng rắn mạnh-mẽ để cứu-vãn tương lai của nước, tạo thành hạnh phúc chủng tộc của các con, nên Thầy làm một vị Giáo-chủ đây, tức là một vị Giáo-sư để giáo Đạo cho nòi giống Việt-Nam mà thôi; nhưng vì huyết-quản của Thầy đã xuất hiện trong nòi giống các con, nên phải làm cho xứng phận công-dân ấy, thì Thầy làm phận- sự thiêng-liêng mới xứng giá của  nó. Thầy đã ban cho lá Quốc-kỳ có bốn chữ “TẬN TRUNG BÁO QUỐC”   Có lẽ miệng đời dị-nghị cho rằng bốn chữ đó làm không đúng gì hết, chỉ có hình thể mà thôi. Những tiếng dị-nghị ấy Thầy nói cho các con nhớ,  duy có Bà Mẹ của Nhạc-Phi Bàn-Cử đề bốn chữ  “Tận Trung báo quốc” mà Nhạc-Phi cứu nước Tống khỏi thất quốc.           Người của nước ta duy có hai Tướng:

          1-  Một là  Võ-Tánh,

          2-  Hai là Ngô-Tùng-Châu 

 Hai vị ấy đã hy sinh tánh mạng khôi phục hoàng đồ cho Tổ quốc.

&

QUẺ 295;

Diệp qui căn trường, lập thiên địa,

Thuỷ thanh nguyên. Trường lưu, hà hãi nhân,

Đắc kim đơn, trường sinh uyên nhai.

。立

。長

丹。

Dịch nghĩa:  Lá đổ quay về cội,  Trượng phu đỡ sơn hà

     Nước nguồn tuông chảy mãi. Người bốn bể riêng nhà

     Kim đơn tu luyện đắc. Sống mãi tuổi không già.

Chú giải: Chí khí của  bậc trượng phu là lo chống đỡ san hà, những tấm gương anh hùng dân tộc còn đó, họ đã thể hiện tinh thần Thế-Đạo hay Nhơn-đạo thì có Nhân luân và Nhân thân: Nhân-luân tạo nên qui-củ, phép khuôn, phương thức sống. Nhân-thân là y-học, sống khỏe, sống mạnh, sống lâu, ấylo về cái sống xác thân. Những qui luật này có liên-hệ nhau chặc-chẽ để TINH- KHÍ- THẦN được hiệp nhứt. Nhớ lại Tinh-thần của Lý-Thường-Kiệt đã đặt hết lòng Tận trung mà Báo quốc ghi tạc vào bốn câu thơ  quả-quyết rằng: bốn chữ “Tận Trung báo Quốc” âý nó sẽ thay đổi tinh thần nòi giống dân tộc,  nó sẽ giúp cho tuổi trẻ thanh niên đắc lực và oai-quyền hơn nữa.

:                      Nam-quốc  san-hà Nam-Đế cư,

                        Tuyệt-nhiên định phận tại Thiên-thư.

                        Như hà nghịch-lỗ lai xâm-phạm.

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

&

QUẺ 296:

Thừa mã khứ trường an. Khán hoa hoa chính phát  

Nhứt nhựt vũ lai lâm.   Hương sắc tận điêu linh.

乘 馬 去 長 安。 看 花 花 正 發 。

一 日 雨 來 淋 。香 色 盡 凋 零

Dịch nghĩa:  Trường an thúc ngựa lên đường,

Ngắm hoa hoa nở dịu dàng xiết bao!

Một ngày mưa đỗ gió gào,

Cánh hoa tan tác rả rời sắc hương.

Chú giải:  Cảnh và người hòa hợp nhau một cách hài hòa, vui vẻ. Với thiên nhiên còn vậy, tình người ắt phải đặc sắc hơn, thuận hoà hơn. Nhìn đời tự nhiên thấy mình đáng sống. Như thế là người đồng đạo phải biết thương yêu nhau, cư xử cùng nhau cho hết dạ thuận hòa: trên dạy dưới tuân lời, dưới khuyên trên vui dạ: mỗi việc chi trong đạo đều chung trí nhau tính bàn rồi mới nên cử sự, thì bề thi thố đã không sơ sót mà tình đồng Đạo càng thêm mật thiết; như vậy mới tránh khỏi “cái hại chia phe lập đảng”, mới không lỗi câu “đồng Đạo tương phân”.Đã gọi là đồng Đạo, phải bỏ hết những thù hiềm ngày trước mà liên lạc nhau, đồng tâm hiệp lực vụ một chữ HÒA mà lo điều công ích cho nhơn sanh, thì Thiên đạo mới chóng hoằng khai, sanh chúng sau này mới gội nhuần ân huệ”(Qu.Giáo Tông)                               Tuỳ duyên, tùy phận đãi cùng đời

                        Đừng ráng tranh-giành phải mỏn hơi

                        Nước vốn đầy sông tùy kẻ xách.

Lộc kia đầy đất tại người dời.

&

 

QUẺ 297:

Mộc trường xuân, thiên căn cán,

Lão tử thực tam thu. Chi diệp điêu bất điêu.

Bất tạ bất kiến căn lao.

。天 。老 秋。

。不 牢。

Dịch nghĩa:  Trường xuân loại mộc hưởng ân trời,

Đơm quả vào thu sắc nhuận tươi.

Cành lá sum suê đầy nhựa sống,

Trông vào phần rễ đẳng thiên thời.

Chú giải:  Giữa người và vạn vật có một mối tình thâm thiết.Khi đồng sống thì ngắm hoa, trồng cây kiểng, thưởng đẹp thừa nhàn. Nhưng khi tuổi già như trăng lặn hoa tàn thì có gì đâu là bền chắc? Thế sao không“THUẬN HÒA”?

Sách có câu “Địa lợi bất như nhơn Hòa” nghĩa là đất lợi chẳng bằng người hòa, cho nên gia đình nào mà chẳng thuận-hòa, thì gia đình âý chẳng đặng yên ổn; chồng trách vợ, vợ hờn chồng, gia đạo không thành rồi ra lắm điều cắn đắng. Thân tộc nào mà chẳng thuận hòa tức là thân tộc ấy mất niềm tương hảo, rồi đối với nhau không những là không mật thiết, mà lại còn chống trả nhau, trách thiện nhau, nghịch lẫn nhau cho tương tàn cốt nhục. Xã hội nào mà chẳng thuận hòa tức là xã hội âý phải đảo điên, rối rắm, chẳng chi là trật tự công bình, rồi mạnh đè yếu, trí hiếp ngu, lê thứ phân vân, dân tình ly loạn. Tôn giáo cũng như một gia đình, một thân tộc, một xã hội vậy. Tôn-chỉ Đạo dầu cao-thượng đến đâu đi nữa, nếu người hành Đạo không được thuận hòa, nền đạo tức phải vì đó mà nghiêng đổ. Nền Đạo tỷ như nhơn thân, mỗi người hành đạo chẳng khác nào một phần trong thân thể ấy. Giác quan, tạng phủ thảy đều ăn chịu nhau, nương cậy nhau cả, thì người cùng chung một Đạo cũng phải ăn chịu nhau, nương cậy nhau mới được.” (Đức Quyền Giáo Tông)

&

QUẺ 298;

Khiếu đạo khiếu đạo,

Thiên tương minh liễu,

Hà bất thân thủ thư my,

phản tố bồng cao đáo lão.

叫 道 叫 道 。天 將 明 了 。

何 不 伸 首 舒 眉 。反 做 蓬 蒿 到 老

Dịch nghĩa: Vang vang tiếng gọi!  Trời sắp sáng trong.

Ai ơi tỉnh giấc xuân nồng,.

Đừng làm ra vẻ lão ông quê mùa..

Chú giải: Có lời kêu gọi “Tỉnh giấc xuân nồng” hẳn người đang say vì giấc mộng. Đã là mộng thì không thực. Bởi kiếp người ngắn ngủi như hoa phù dung sớm nở tối tàn. Nhưng hoa phù dung nó còn được khoe sắc màu rực rỡ vào buổi sáng, cũng làm cho say đắm lòng người. Còn kiếp nhân sinh chưa một lần vui trọn

Thơ của Bạch Cư-Dị có câu này để ca tụng nét đẹp của người con gái; vẻ mặt như hoa phù dung, mày như lá liễu. “phù dung như diện, liễu như my” Xưa nay vẻ đẹp của người con gái thường ví như Hoa phù dung, nhưng đặc biệt thì “Hoa phù-dung sớm nở tối tàn”, tức là nói đến một hương sắc chóng phai tàn. Phù-dung là tên một thứ cây loại thảo,có hoa đẹp, cao chừng một thước rưỡi đến hai thước, lá to, hoa đỏ hồng hoặc trắng vàng. Sớm mai nở tươi thắm, chiều tối lại tàn đi. Kiếp hoa phù dung là nói

đến sự bạc-mệnh của người con gái, quá mỏng manh và nhiều gian-truân. Nhưng hỏi tại sao Trời sinh người con gái ra làm chi để chịu bạc-mệnh như vậy ?

&

QUẺ 299:

Dược nhĩ chân phục liễu.

Dục tam tề hậu túc phân minh.

Thần trung thần, thanh trung thanh.

Cố đắc khẩn khả trường sinh.

藥 餌 真 服 了 。欲三 劑 後 足 分 明 。

神 中 神 。清 中 清。固 得 緊 可 長 生。

Dịch nghĩa:  Thuốc thang sắc cạn uống ngay,

Ba thang đủ rõ thuốc hay dường nào!

Thần linh phù trợ giúp vào,

Dược linh trong sạch sống cao tuổi trời.

Chú giải: Bịnh đau một phần là cũng do nghiệp gây nên Nghiệp là con đường đi từ Nhân tới Quả. Nghiệp được tạo ra bởi các việc làm lành hay dữ trong kiếp trước, tuy nó vô hình nhưng nó ảnh hưởng lên kiếp sống hiện tại, bằng sự may và sự rủi, để làm cho kiếp sống hiện tại được hạnh phúc hay đau khổ. Việc làm lành sẽ tạo nên Nghiệp lành (Thiện nghiệp), cái Nghiệp lành nầy nó theo ủng hộ mình, nâng đỡ mình (mà mình gọi đó là dịp may). Còn việc làm ác sẽ tạo ra Nghiệp ác (Bất thiện nghiệp), cái Nghiệp ác nầy nó theo báo hại mình (mà mình gọi đó là xui xẻo, rủi ro) khiến mình bị hoạn nạn tai ương và phiền não. Vậy, Nghiệp chướng là những ngăn trở khó khăn trong kiếp sống hiện tại do Nghiệp ác tạo ra. Hai từ ngữ: Nghiệt chướng và Nghiệp chướng, xem như đồng nghĩa, nhưng Nghiệt chướng có ý nghĩa rõ rệt hơn.kinh Cao Đài có câu:

                        “Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,

“Đừng hãi kinh cầu đảo Chí-Tôn”

&

QUẺ 300:

Tam thiên tằng kết xã. Tứ hải tận tri danh,

Trường kỵ kiêu mã. Trực nhập thiên đình.

     三 天 曾 結 社。 四 海 盡 知 名 。

     長 騎 驍 馬 。直 入 天 庭

Dịch nghĩa:  Ba ngày lễ tạ Thần linh,

Đồn vang bốn biển uy danh lẫy lừng.

Dương roi nhanh giục ngựa tinh,

Thẳng đàng tiến đến triều đình lập công.

Chú giải:  điềm lành của quẻ này ứng với lời Các Đấng Nữ Tiên có bảo rằng phải “coi sự trường sanh của mình là trọng”.Vậy sự “trường sanh” là gì? Phải chăng là những nơi khác hơn cõi thế gian này, vì đây là cảnh tạm. Theo như Đức Hộ-Pháp có cho biết về cuộc đời tạm này rằng: Sao không nhìn sự thật “Kiếp sanh tại thế mang xác thịt, hỏi sống được mấy lát ? Nội một giấc thức, giấc ngủ là thấy sự sống chết của kiếp con người, mang thi-hài bóng dáng này là giả, Cảnh thiệt không phải ở đây, mà cảnh thiệt ở nơi chỗ khác kia, sao không tìm cảnh thiệt, cảnh tồn tại, lại chạy theo bóng dáng ?”