Khổng Minh Thần Toán: Quẻ 301 - Quẻ 340

QUẺ 301:

Nhàn lai phu tử xứ. Ngẫu nhiên ngộ nhứt nhân,

Đồng nhan hạc phát. Tiếu lý sinh xuân.

     閑 來 夫 子 處 。偶 然 遇 一 人 。

     童 顏 鶴 髮 。笑 裏 生 春  

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, đang đứng và ngoài trời

Dịch nghĩa:   Đến thầy học hỏi  lúc nhàn,

Tình cờ lại gặp một chàng trẻ trung.

Mặt hồng tươi thắm, tóc sương,

Nụ cười như điểm nét xuân mặn mà.

Chú giải: Trong nhà có người quân tử, thì ngoài cửa có khách quân tử đến.Thử vấn tâm mình ai là quân tử, ai là tiểu nhân? Tự xét mình là tự vấn lương-tâm, tự mình nhìn mình mà kiểm-điểm lỗi lầm. Không một Tòa-Án nào phán quyết mình chánh lý bằng Tòa-Án lương-tâm.Người ngoại cuộc có thể khen ta những điều không đáng khen, chê ta những điều không đáng chê, nhận định sai lầm. Nhưng Toà-Án lương-tâm không sai lầm nếu chúng ta thành tâm, thật ý, vô tư, xét lại điều mình đã nghĩ, đã nói, đã làm thì thấy rõ lỗi lầm của chúng ta như thấy hạt bụi trong ly nước trong ngần. Khi biết tự xét mình là đã chứng tỏ cái lòng ngay thật, cái thiện chí muốn tu thân để hiểu rõ chân tướng của bản-ngã mà sống thật với lòng mình. Nếu thiếu tinh thần tự xét thì đời sống con người phóng-túng, ngang tàng, phạm tội mà không biết tội, nhận tội; nên thường tự mãn, tự cao, tội-lỗi càng ngày càng chồng-chất. Các bậc Thánh Nhân hằng ngày tự kiểm-soát lấy mình, tự xét lấy mình như Thầy Trình-Tử xưa kia: “Mỗi khi làm được một việc Thiện, Thầy bỏ một hột đậu trắng vào trong bình. Mỗi khi lầm-lỗi, Thầy lại bỏ một hột đậu đen vào trong bình. Cứ mỗi ngày Thầy lại đổ đậu trong bình ra đếm để kiểm-điểm xem đã làm bao nhiêu điều xấu, bao nhiêu điều tốt trong ngày. Lúc ban đầu đậu đen nhiều, đậu trắng ít, Thầy cố gắng tập sửa thêm nữa cho đến khi không còn bỏ đậu đen vào bình nữa mới thôi”. Nhờ chú trọng đến việc tu thân mà Thầy Trình-Tử đã trở thành một bậc hiền-triết  xưa.

&

           

QUẺ 302:

Nhàn vân dã, Hạc vọng đông hành.

Duy hữu hương nhân, Tiện thị tri âm,

Kinh doanh bố trí lưỡng tam xuân,

Liên nhai đăng đại hậu, cẩm tú tiền trình.

     閒 雲 野 鶴 望 東 行

     惟 有 鄉 人 便 是 知 音

     經 營 佈 置 兩 三 春

     聯 街 燈 大 後 錦 秀 前 程

Dịch nghĩa:  Cánh hạc nương mây giữa nội đồng,

Hướng Đông thẳng tới vượt ngàn không

Thân tình làng nước thoả lòng,

Kinh doanh sắp đặt mấy Xuân mới thành.

Đèn hoa gặp hội rạng danh,

Gấm cờ gặp gỡ tiền trình may duyên..

Chú giải: Người chiếm quẻ này đứng vào thượng thượng ứng với niềm vui trong đạo pháp.Nay là buổi Thượng nguơn lập đời Thánh-Đức, Thầy đã chọn giống dân Việt Nam này, hẳn đã được một sự “chọn mặt gởi vàng” để gieo truyền mối Đạo.Nay được Đức Chí-Tôn mở Đạo, là một nền Chánh giáo, tất nhiên Người cũng ung-đúc những bậc tài nhân, nghĩa là “Thầy dùng  lương-sanh  mà cứu vớt quần-sanh”.Đức Hộ-Pháp có thuyết giảng rằng:

           “Hội-Thánh tức là đám lương-sanh của Thầy tom góp lại làm một .Cả  lương sanh ấy, Thầy đã dùng quyền thiêng-liêng dạy-dỗ,  trước ung-đúc nơi lòng một khiếu từ bi cho tâm địa có tình “aí vật ưu sanh” theo Thánh-đức háo-sanh của Thầy, dùng làm lợi khí  phàm tục để độ rỗi người phàm tục. Những lương-sanh ấy phải thế nào hội hiệp lại nhau làm một, mà làm ra xác thân phàm của Thầy, thì Thầy mới có hình thể trong lúc Tam-Kỳ Phổ-Độ này, hầu tránh cho khỏi hạ trần như mấy kỳ trước vậy. Thầy mới dùng Huyền-diệu cơ bút dạy-dỗ mỗi người, đặng tỏ ra rõ-ràng có quả nhiên Thầy trước mắt; để Đức-tin vào lòng mỗi lương-sanh ấy rằng Thầy thật là Chí-Tôn, Chúa cả càn khôn thế giới, cầm cân công bình thiêng liêng thưởng phạt, quyết-đoán rằng Thầy đủ quyền bảo-hộ cho con cái của Thầy, dầu đương sanh tiền hay buổi chung qui cũng có Thầy trước mắt, công thưởng tội trừng, tu thì thành, dữ thì đoạ; chỉ có Niết-bàn, Địa-ngục đôi đàng, đặng dẫn bước đường đời không lầm lạc. Hứa rằng lập ngôi nơi Bạch-Ngọc-Kinh, khai đường vào Cực-Lạc Thế giới và đóng chặt cửa Phong-đô đặng tận độ chúng”

&

QUẺ 303;

Hán thuỷ vô tình. Thục thuỷ trừng thanh.

Hoàng hà cổn cổn. Tứ hải yên trần.

          漢 水 無 情 。蜀 水 澄 清。

        黃 河 滾 滾 。四 海 煙 塵

Dịch nghĩa:  Sông Hán vô tình lặng lẽ trôi,

Nước dòng Tây-Thục lắng trong rồi.

Hoàng-Hà say sóng cuồng tuôn chảy,

Khói tỏa bốn phương bụi ngút trời.

Chú giải: cảnh sắc khoe tươi của một đất nước ngàn năm văn vật như nước Trung hoa, được Đấng Thượng đế ban cho đủ giang san gấm vóc, anh linh tú khí, đáng lẽ họ sẽ được mãi là mẫu nghi thiên hạ, nhưng vì ác tâm xua quân đi đánh xứ người,nên họ cũng mất phần thưởng cao quí ấy.

Nay, đến một chu kỳ mới, Việt Nam sẽ được làm chủ tinh

thần của nhân loại như Đức Chí-Tôn đã hứa: “Hứa  rằng lập ngôi nơi Bạch-Ngọc-Kinh, khai đường vào Cực-Lạc Thế giới và đóng chặt cửa Phong-đô đặng tận độ chúng sanh, vớt chín mưới hai ức nguyên-nhân trở về cựu vị.             Các lời hứa ấy, nếu chẳng phải của Thầy thì chưa một vị Phật nào dám gọi mình đủ quyền mà làm đặng! Cả lương sanh Thầy lựa chọn so-sánh quyền Chí-Tôn của Thầy và cân lời hứa ấy mà nhìn quả thật là Thầy, để Đức-tin mạnh-mẽ mà trông cậy nơi Thầy. Cái Đức-tin ấy nó tràn khắp trong nhơn-sanh mà gây ra một khối lớn tủa khắp cả hoàn-cầu sửa đời cải dữ. Cải dữ đặng thì phải tu, tu thì phải thành; mà nếu cơ thành chánh-qủa chẳng để trước mắt người thì khó mà làm cho nhơn-sanh mến yêu mùi Đạo; nên buộc Thầy phải lập Chánh-thể, xây nền Đạo tại đời cho cả chúng-sanh đều nhìn-nhận vì cớ hiển-nhiên giục lòng lo tu niệm”  (Diễn văn ĐHP 14-2-Mậu-Thìn

&

QUẺ 304:

Tiềm long dĩ thụ khổn.

Thượng bất kiến vân hưng,

Trữ khan vân tứ hợp,

Phi khứ đáo thiên đình.

潛 龍 已 受 困 。尚 不 見 雲 興 。

貯 看 雲 四 合。 飛 去 到 天 庭

Dịch nghĩa:  Rồng ẩn nguy nan dưới vực sâu,

Dễ đâu nhìn thấy đám mây cao.

Ngóng trông bốn phía mây dồn lại,

Vút thẳng chiếc thân đến cổng trời.

Chú giải: Điềm này ứng với cơ mầu nhiệm của Diêu Trì Cung không ngừng việc Phổ-độ, Bà Thất-Nương với nhiệm vụ “Khơi đuốc Đạo đầu”, đã để lời cùng các bậc tiền khai Đại-Đạo rằng:  “Em phụng lịnh Đức Diêu-Trì Kim-Mẫu đến ban phước lành cho tất cả quí Anh cùng tất cả các Bạn Hiệp Thiên-Đài và để đôi lời cùng các Bạn, cứ vững tâm lo tròn nhiệm-vụ của mình là phải Bác-aí, từ tâm, công-bình, Chánh-trực, hằng ngày gieo mối cảm tình với đồng-chủng. Các Bạn chớ tưởng nền Đại-Đạo ở hoài trong khuôn-khổ chật hẹp này đâu, nó phải lướt qua bốn biển năm châu, chừng ấy nơi nào cũng có các Bạn, nếu vắng mặt các Bạn thì nơi ấy không thành Đạo được.           Vậy thì chẳng nơi nào mà chẳng có chơn của Chức-Sắc Hiệp-Thiên-đài ! Còn nói về quyền-hành, tuy không mà có, tưởng nhỏ mà to, cả luật lệ nắm trong tay, cân Công-bình nằm trên vai, đố ai chạy đường nào cho khỏi. Nhưng thương thì hay gần-gũi khuyên-răn, có lời chi nặng-nề xin các Bạn miễn nghị và vui lòng đàm-luận thì mấy em lấy làm may-mắn lắm !Cuộc Hội-Yến đến đây long-trọng, Các Chị nơi Diêu-Trì-Cung đều sửa-soạn trang-hoàng, hô-hào nô-nức đặng đến phó Hội. Các Chị đồng để lời cảm ơn đức của các Anh và các Bạn”…

&

QUẺ 305:

Thử xứ dật vị nùng nùng diễm, Bất nại cửu.

Hà như đàm tiếu sinh phong.

Đảo hảo Đông bôn Tây tẩu.

此 處 溢 味 濃 濃 豔 。不 耐 久 。

何 如 談 笑 生 風 。倒 好 東 奔 西 走 叟

Dịch nghĩa:  Đây sẵn hương nồng lẫn vẻ xinh,

Đợi lâu thêm những xuyến xao tình.

Chi bằng cười nói đùa theo gió,

Hơn vẫn tây đông vất vả tìm..

Chú giải:  Quẻ này ứng với việc Đức Khổng-Tử đi chơi núi Thái-Sơn, gặp ông Vinh-Khải-Kỳ ngao du ở ngoài đồng, mặc áo cừu, thắc lưng dây, tay khải đàn Cầm, vừa đi vừa hát. Đức Khổng-Tử hỏi:“Tiên-sinh làm thế nào mà thường vui-vẻ thế? Ông Vinh-Khải-Kỳ nói:Trời sinh muôn vật, loài người quí nhất, mà ta được làm người, đó là một điều đáng vui. Trong loài người, đàn ông quí mà ta được làm đàn ông, đó là hai điều đáng vui. Người ta sanh ra, có người đui què, có người non yểu, mà ta khỏe mạnh nay đã chín mươi tuổi, là ba điều đáng vui..Cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là sự hết của đời người. Ta nay an phận thủ thường đợi lúc chết thì có gì là lo buồn ?”.    Đức Khổng-Tử nói: Phải lắm, thế là Tiên-sinh biết cách tự làm cho khoan-khoái mà hưởng sự vui thú ở đời. Cái vui sướng không ở đâu xa, mà ở ngay trong mình tự biết. Nay người Cao Đài có thể trả lời rằng: hạnh phúc thứ nhứt tôi là người Việt Nam; hạnh phúc thứ nhì tôi là người biết Đạo; hạnh phúc thứ ba tôi đang ở trong lòng Đại Từ Phụ.

            Nhà Hiền-Triết Hy-Lạp Epicure có câu: “Se suffire à soi même c'est posséder le plus précieux des biens: la Liberté” Nghĩa Tự-túc là có được một thứ của quí nhứt trên đời: Sự tự-do,vậy thanh nhàn là “Tự-do của tâm hồn”.

&

QUẺ 306:

Giá lý hữu tiểu nhân. Thiết mạc sảo lưu đình,

Mang đả điểm, Hảo khởi hành.

Nhựt nguyệt du. Vật cữu tồn.

這 裏 有 小 人 。切 莫 稍 留 停 。

忙 打 點 。好 起 行 。日 月 遊 。勿 久 存

Dịch nghĩa:  Tiểu nhân lẫn khuất đâu đây,

Đừng nên nấn ná giây lâu ích gì.

Hãy ngay thu xếp ra đi,

Trôi qua ngày tháng, trù trừ hại thân.

Chú giải: người sống mong được thấy huyền diệu, nhưng huyền diệu trước mắt mà ít ai để ý tới. Đời có thường vậy.

“Ta hãy thử nghĩ; cả toàn cơ-quan huyền-diệu vô biên Đức Chí-Tôn đào tạo trong càn-khôn vũ-trụ và vạn vật hữu hình, chúng ta có thể quan sát trước mắt chúng ta đây, chúng ta ngó thấy đều do khuôn luật thiên-nhiên tương-đối mà ra. Ấy vậy: hễ có khuôn luật tương-đối tức nhiên nó phải có đối cảnh. Bởi khuôn luật tạo ra hình, hễ có hình thì có cảnh; tức nhiên có hình thì có bóng, vô bóng tức nhiên vô hình. Chúng ta thử nghĩ luật tương đối, chúng ta lấy điều đơn-sơ quan-sát, chúng ta ngó thấy sống trong giấc ngủ và chúng ta sống trong giấc thức: Ngủ là sống với vạn-linh. Thức là sống với vạn-vật Chúng ta quan-sát được hai đối cảnh, sánh với khuôn luật càn khôn kia cũng vậy không có gì khác; có cảnh sống cũng có cảnh chết, sống chúng ta thế nào, chết chúng ta thế ấy: Sống, chúng ta là khách của quán tục này. Chết, là trở về nguồn cội; tức nhiên nhập trong cảnh thiêng liêng hằng sống chớ không có chi lạ .Ấy vậy, thức ngủ là trong khuôn luật sống chết, có cái sống phải có cái chết. Hành-tàng sống chúng ta thể nào thì buổi chết chúng ta cũng hiện tướng ra nguyên vẹn, không điều gì lạ hết”.  

&

QUẺ 307;    Long sinh đầu giác, tương bái cam lâm,

              Lục thất bát tảo, Hảo tề thương sanh.

          龍 生 頭 角 。將 沛 甘 霖 。

       六 七 八 早 。  好 齊 滄 生。

Dịch nghĩa:  Rồng linh mọc sẵn đầu sừng

Dòng sương ngon ngọt thắm tình rồng mây.

Sớm nhanh  theo gió an bày

May ra cứu khổ nạn tai dân lành.

Chú giải: Rồng có đầu là hiện tượng được coi là lạ. Sự sống chết của con người có lạ không? Tại sao phải bày ra cuộc trần sinh có sống, chết để làm gì ? Có vô-ích không? Có  nên  bỏ đi không ?

Khi con người còn hơi thở, gọi đó là sống; vì có ngũ-quan biết cảm-giác xúc-động, đi đứng, làm cho con người có cái sống thực-tế, theo con mắt thấy của người hằng ngày. Khi con người không còn cử-động được nữa gọi là Chết, ấy là nó phải chịu luật tiến-hóa của tạo đoan, phải thay cũ đổi mới để cho xác thân này trở nên đẹp-đẽ đặng phù hợp với linh quang sáng suốt của Đức Chí-Tôn ban cho nơi mặt  thế này, để thay thế cho Ngài đặng bảo vệ cơ sanh hóa của Ngài cho được tồn-tại. Nhưng mỗi lần thay đổi hoặc luân-chuyển là làm cho trình độ nó cao hơn, tốt đẹp hơn. Như vậy, luật thay đổi hay luật luân-hồi rất có ích cho cơ sanh-hóa  của Tạo-đoan, vì mỗi lần thay đổi hoặc luân-chuyển là mỗi lần  tiến-hóa cao hơn. Nên luận về Bí-pháp thì không có gì là mất hay chết cả. Bởi trong cái chết có ảnh hưởng cho cái sống và trong cái mất nó có ảnh hưởng cho caí còn” .

&

QUẺ 308;  Thái Bạch hiện Tây-Nam.

Long xà tương cạnh trục.

Long tự phi thượng thiên.

Xà khước bị tình lục.

太 白 現 西 南。 龍 蛇 相 競 逐 。

龍 自 飛 上 天 。蛇  卻 被 刑 戮

Dịch nghĩa:  Vì sao Thái Bạch hiện Tây-Nam

Rồng rắn tranh nhau lẽ thiệt hơn

Rồng hướng mây cao bay liệng khắp

Rắn tà bị diệt, nát tan thân.

Chú giải: Người Á-Đông  ta quan-niệm rằng Trời là thiên thượng, người là thiên hạ; tức nhiên Ông trời trên là cha, ông trời dưới là con. Thế nên người tu cốt để đạt được ngôi Phật, ngôi Trời. Đức Hộ-Pháp dạy:Phương luyện-kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại-Đạo. Là nghĩa làm sao?

            Luyện-kỷ là sửa mình, hay là phương-pháp tu thân của con người. Trên phương-diện “Nhân-sinh-quan” con người là một thực thể linh-hoạt, tối linh hơn tất cả muôn loài. Con người có tâm hồn, có tư-tưởng, có tình cảm, có trí khôn, có khả năng sáng tạo và tiến-bộ không ngừng. Vì nhu cầu vật-chất, loài người đã cố-gắng phát minh cơ năng hữu tướng đến mức tận mỹ, quên lãng sự trau tâm sửa mình để trở nên tận thiện. Vì nặng vật-chất hơn tinh-thần nên nhơn-loại đã bôn xu trên nẻo lợi đường danh gây nhiều tội ác, nghịch thù, xô-xát chém giết lẫn nhau, tạo cảnh chiến tranh thảm khốc là tai họa đương nhiên dẫn-dắt đến cơ tận diệt. Thế nên lấy sự tận thiện của tinh-thần kềm chế đà tiến-triển của sự tận mỹ vật-chất tức là giục tấn theo Đạo Trung Dung, tạo cơ chuyển thế, lập đời Minh Đức Tân Dân để trở nên tận thiện, tận mỹ đó vậy.

&

Quẻ 309:

Tằng bả thụ tài. Dã yếu đãi xuân lai.

Đông phong niệu niệu, Khai biến hoa nhai.

    曾 把 樹 栽 。也 要 待 春 來 。

    東 風 嫋 嫋 。開 遍 花 街

Dịch nghĩa:  Ra công trồng tưới vườn cây,

Lòng hằng mong mỏi đến ngày xuân tươi.

Gió đông nhè nhẹ qua trôi,

Đầy cành hoa nở ngát mùi hương trinh.

Chú giải:  Hoa ngát hương, người thắm nhuần đạo đức        ứng hiệp nhau. Đức Hộ-Pháp cũng cho biết rằng:

           “Cái trường Càn khôn tạo hóa vốn của Đức Chí Tôn lập, đặng dạy các đẳng linh-hồn thêm học thức, học đặng biết; đặng biết mình trước đã, sau mới mong tìm-tỏi biết người,  tấn-hóa cùng cơ thể luân hồi,  rộng học thức nhờ bởi chịu nhọc nhằn đau thảm. Ngày nào đặng linh thiêng tột bực, thì hiểu cùng cặn-kẻ mối huyền vi . Cả tinh thần đúng bậc trí tri, thì mới đoạt đặng phương hằng sống.  Nếu chẳng phải là điều viễn-vọng, nay trời là chi, sau ta cũng là chi ? Tu cho nên Bác-aí, Từ bi, tạo thế khác có khi ta chủ-tể. Cái không trung vô ngằn kia biết bao nhiêu cho cùng tận.  Hễ Trời ngày nay đã làm đặng điều gì thì sau ta cũng có khi làm đặng vậy, gia nghiệp của mỗi con người nơi thiêng-liêng có sẵn gọi là cảnh-giới cá nhân, nếu mình biết lo sự nghiệp nhỏ là phương khai thế giới .”

&

QUẺ 310:  Tứ thập dư niên khổ dĩ thâm.

Nhi kim an lạc độ quang âm.

Mạc trù luận. Tư ái thượng đa hoan hỉ sự.

  Tích thậm thanh xuân, bất giảm thanh xuân.

四 十 餘 年 苦 已 深 。而 今 安 樂 度 光 陰

莫 籌 論 思 愛 尚 多 歡 喜 事

惜 甚 青 春 不 減 青 春

Dịch nghĩa:  Bốn mươi năm lẽ khổ đau nhiều

Nay được thư nhàn rạng vẻ tươi.

Suy tính ích gì điều hơn thiệt

Tình duyên sáng đẹp lẫn vui cười.

Chú giải:Tuồng đời xưa nay vẫn chung một vòng lẩn quẩn

Mặt luật thiêng-liêng vẫn vậy, coi tuồng đời nào có thấy sửa bao nhiêu, sanh tử tử sanh, hư hư hoại hoại, cái cơ tạo vẫn xây vần .Người này tạo rồi chết qua, kẻ khác hóa thêm rồi cũng chết, chỉ học nghì tạo-hóa mà các đẳng linh-hồn dễ biết bao căn kiếp tại thế này, tạo hữu hình đặng thông hoá phép vô-vi, lấy gia-nghiệp đặng tri cơ thế giới. Hỏi ai đã tránh khỏi cái quyền năng vô tận của luật pháp ấy chăng ? Không phải tạo cho mình dùng, thì cũng hóa dùm cho kẻ khác. Theo mà học hoài lấy kiểu vở của Hoá công; dầu cho đến tận thế phép không dời đổi.         Đã biết hữu-hình thì hữu-hoại, mà con người lầm lũi cứ làm hoài, làm cho đến đỗi liệt gối mòn tay, mà làm hoài chẳng mỏi. Làm chưa hết của mình mà còn lo toan tính giựt-giành của kẻ khác, chất chứa đồ làm ấy cho nhiều, nào tiền bạc, nào cửa nhà, nào ruộng sâu trâu cả; làm cho đã thèm các vật”…

&

QUẺ 311Tam đông túc, văn ngệ tinh.

Đáo đầu xứ, diệc thành thuỷ,

Cấp cấp hồi đầu, vật ngộ tiền trình.

三 冬 足 。文 藝 精 。

到 頭 處。 亦 成 水 。

急 急 回 頭 。勿 誤 前 程

Dịch nghĩa:   Ba lần đông lạnh qua rồi,

Văn chương, nghệ thuật đến hồi tinh thông.

Công thành hãy kíp quay chân,

Như dòng nước mát về nguồn thảnh thơi.

Mau mau ngoảnh lại xem trời,

Con đường trước mắt kẻo rồi lầm to.

Chú giải:  điềm này ứng với lời Đức Hộ-Pháp nói:

“Con người cũng một phần trong vạn-vật. Đức Chí Tôn định cho loài người làm Chúa của vạn-vật là tại sao? Bởi con người có tánh linh hơn vạn-vật là biết thương yêu bảo tồn chúng nó, ví như mình thương yêu con gà, con chó mình mới nuôi để cho nó sanh hóa ra nhiều. Hoặc mình thương cái cây, cái trái mới gieo trồng nó, vô phân tưới nước cho được sung mãn nảy nở thêm ra, mới xứng đáng làm Chúa của vạn-vật”.

            Tóm lại, tất cả muôn loài, cầm-thú, côn-trùng, thảo mộc.. cũng như loài người, vốn là bạn đồng-sanh cùng một nguồn-gốc nơi Đấng Chí-Linh. Chúng ta phải biết thân thích, tức là gần-gũi thương yêu hơn là bạc-đãi sát hại một cách vô tâm mà trái với đức háo-sanh của Thượng-Đế.

&

QUẺ 312:

Kỳ quái kỳ quái. Tiền hương lai liễu.

Kim phiên hựu lai cẩn. Thận đề phòng.

Vật bị lộng nhưỡng.

     奇 怪 奇 怪。 前 香 來 了。

今番 又 來 謹 。慎 提 防 。勿 被 弄 壤 。

Dịch nghĩa:   Lạ lùng thay chuyện thế nhân,

Việc chưa mong mỏi lần lần hiện ngay.

Giờ nay dịp tốt vào tay,

Gắng lòng giữ lấy kẻo hoài công thôi.

Chú giải:  Phải ân hậu và khoan hồng. Ân là ơn, Hậu 

là dày-dặn. Ân-hậu là thi ân nhiều, làm ơn không biết chán. Người ân-hậu là người có ân đức rộng lớn, ăn ở có thỉ có chung, trước cũng như sau không thay dạ đổi lòng. Dầu gặp cảnh giàu hay nghèo, đối xử với người vẫn giữ một mực, biết trọng nghĩa khinh tài, thi ân bất cầu báo, lưu nhơn tình cùng tất cả mọi người không bao giờ phai lợt. Khoan-hồng là rộng lượng, quảng đại, không cố chấp. Lấy tánh khoáng đạt rộng-rãi đối xử với người, không nhỏ nhen, hẹp hòi. Ân-hậu và khoan-hồng là hai đức tánh liên quan với nhau nên đã được ghép chung thành một danh-từ khoan hậu, là tấm lòng rộng-rãi, đức-độ dày-dặn.

&

QUẺ 313:

Canh ngưu phục hàng. Tịch thổ khai cương.

Toạ khan thu hoạch: Thử tắc đạo lương.

       耕 牛 伏 降。闢 土 開 疆 。

坐 看 收 獲 。黍 稷 稻 梁

Dịch nghĩa:  Trâu cày ngã chúi trước càng,

Mở đầu ra sức khai hoang ruộng đồng.

Ngồi xem lúa trổ đầy bông,

Hoa màu ngũ cốc thoả công nhọc nhằn.

Chú giải: Chuyện bảo Thúc Nha và Quản Trọng. Bảo Thúc-Nha chết, Quản-Trọng thương tiếc, khóc rất thảm thiết, nước mắt ướt dầm cả vạt áo. Có người hỏi: Ông với Bảo-Thúc không phải là họ hàng thân-thích gì, mà sao ông khóc quá như vậy? Quản-Trọng nói: Ta lúc nhỏ khốn-khổ, thường buôn bán chung với Bảo-Thúc. Lúc chia lời bao giờ ta cũng lấy phần hơn mà Bảo-Thúc không cho ta là tham, biết ta gặp cảnh quẩn bách, bất đắc dĩ phải lấy như thế. Ta ở chợ thường bị lắm kẻ dọa nạt, Bảo-Thúc không cho ta là nhác, biết ta có bụng bao dung. Ta bàn việc với Bảo-Thúc nhiều khi việc hư hỏng, Bảo-Thúc không cho ta khờ, biết lúc may lúc rủi cho nên công việc có thành có bại. Ta ba lần ra làm quan, ba lần bị bãi, Bảo-Thúc không cho là bất lực, biết ta chưa gặp thời. Ta ra trận ba lần đánh thua cả ba, Bảo-Thúc không cho ta là bất tài, biết ta còn mẹ già để phụng-dưỡng.Ta nhẫn-nhục thờ vua Hoàn Công, Bảo Thúc không cho ta là vô sĩ, biết ta có chí làm ích-lợi cho cả thiên-hạ.Sanh ra ta là cha mẹ, biết ta là Bảo-Thúc, ta thương khóc thế nầy đã thấm vào đâu! (Trích Cổ-Học Tinh-Hoa) Trên đời, Bá-Nha và Tử-Kỳ được người ta gọi là bạn tri-âm. Còn Bảo-Thúc-Nha và Quản-Trọng người ta gọi là bạn tri-kỷ. Bảo-Thúc-Nha nghe những là bạn tri-kỷ, còn có thể gọi là người khoan-hậu đối với Quản-Trọng.

&

QUẺ 314:

Yêu hạ bội thanh bình. Bộ nhập kim loan điện,

Phú hộ tam sơn. Thiên chung bách luyện.

腰 下 佩 青 萍 。步 入 金 鑾 殿。

        富 護 三 山 。千 鍾 百 鍊 。

Dịch nghĩa:  Bên lưng mang kiếm thanh bình

Ung dung thẳng tiến trước đền kim loan

Ra tài bảo vệ núi non

Muôn nghìn sắc thép luyện rèn kiếm hay.

Chú giải:  Phải thanh nhàn, đừng vị-kỷ. Phải để tâm hồn được thảnh-thơi, không nên quá ràng buộc mình vào vòng danh lợi mà phải lao tâm nhọc trí. Chúng ta sống trong cảnh phồn hoa vật-chất, thường chịu ảnh-hưởng của ngoại cảnh thế tình, tâm trí không bao giờ được yên tĩnh do lục dục thất tình khuấy động, cho nên muốn được thanh-nhàn cần gột bỏ Tham- Sân- Si là nguồn-gốc đưa con người đến chỗ ham, mê, thù, giận. Một khi trói buộc vào các tánh ấy thì tâm hồn lúc nào cũng bận rộn, không thảnh-thơi. Vì thế, cần phải quyết lòng cởi mở, thơ-thới ung-dung. Người thanh-nhàn lúc nào cũng biết an phận thủ thường, không đứng núi nầy trông núi nọ. Biết “thích kỷ tự an” hoặc “Tùng ngộ nhi an” là biết an vui mà “lạc tại kỳ trung”.

&

QUẺ 315:

     Ly điểu hội phi cao.  Xuất cốc thiên kiêu.

   Xà long thần nha trảo. Biến hoá hãi đảo.

離 鳥 會 飛 高。 出 谷 遷 嬌 。

蛇 龍 神 牙 爪 。變 化 海 島

Dịch nghĩa:  Chim rời tổ mẹ đã bay cao,

Lướt dặm mây ngàn đến chốn hay.

Rồng rắn vật linh răng móng đủ.

Biển cồn biến hoá luyện chân tài.

Chú giải:  Đừng vị-kỷ: Kỷ là Ta, là Bản-ngã (le Moi).
Vị-kỷ là chỉ biết có Ta, vì Ta, người như thế hoàn toàn ích-kỷ (Égoiste). Phản nghĩa với “vị-kỷ” là “vị-tha” hay là “vô ngã” (la négation de soi) nghĩa là không có Ta. Người ích kỷ là chỉ biết ích-lợi riêng cho mình nên không kể đến người khác.Vì quá bảo-thủ cho bản thân mà quên mất sự sống còn của người khác. Do đó, tấm lòng từ thiện không nảy nở được để tế khổn phò nguy, giúp kẻ yếu cô hoạn nạn. Dầu ai dèm pha chê trách mình điều gì cũng đừng nên vội giận. Nghe thấy ai khen điều gì cũng chưa nên vội mừng. Không quá vui vì được phước, mà cũng đừng quá buồn khi gặp tai họa. Nên “vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc vui buồn thấm vào chơn tánh”, .

QUẺ 316:

   Hỉ hỉ hỉ, tầm thường nhứt dạng song tiền nguyệt,

   Hung hung hung, hữu liễu mai hoa tiện bất đồng,

   Hàm tiếu hướng đông phong.

   Nhân tình bất tỷ cựu thời nùng.

喜 喜 喜 尋 常 一 樣 窗 前 月。

        凶 凶 凶 有 了 梅 花 便 不 同 。

含 笑 向 東 風 。人 情 不 比 舊 時濃

Dịch nghĩa:  Dịp may chợt đến không lường,

Trăng treo song cửa chuyện thường thế nhân

Sau lưng theo việc chẳng lành,

Hoa mai chẳng tiện  phô cành gió đông.

Tình đời khó nỗi cảm thông,

Trước ra nồng thắm, nay trông phũ-phàng.!

Chú giải:  Cửa Đạo có cơ quan Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn. Cầm đầu Chưởng Quản Phước Thiện là hai vị Chưởng quản Phước Thiện Nam và Nữ phái. Chơn truyền của Phước Thiện là thay thế cho Chí Tôn và Phật Mẫu thực hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là: Làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không vợ không chồng, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Có vậy mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ của Đức Chí Tôn để nơi mặt thế nầy.” (Đức Cao Thượng Phẩm)

&

QUẺ 317:

Hoả thiên viêm tai. Nghi thuỷ tương tế,

Bảo đỉnh đơn thành. Hiên thiên yết địa.

火 天 炎 灾 。宜 水 相 濟 。

寶 鼎 丹 成 。掀 天 愒 地 。

Dịch nghĩa:  Trời nắng như nung xảy hoạ tai

Hãy nên tìm nước tưới vào ngay,

Đỉnh quý báu nhà nên sở đắc,

Ngày sau giúp sức lập huân tài.

Chú giải: Tích Vua nước Vệ: buổi trước rất yêu Di-Tử Hà. Luật pháp nước Vệ, ai đi trộm xe của vua thì phải tội chặt chân. Mẹ của Di-Tử-Hà đau nặng, đêm khuya có người đến gọi, Di Tử-Hà vội-vàng lấy xe vua ra đi, vua nghe thấy khen rằng: Có hiếu thật! Vì hết lòng với mẹ mà quên cả tội chặt chân. Lại một hôm, Di-Tử-Hà theo vua đi chơi ở ngoài vườn, đang ăn quả đào thấy ngọt, còn một nửa cho vua ăn. Vua nói “Yêu ta thật, của đang ngon miệng mà biết để nhường ta”. Về sau, vua không có lòng yêu Di-Tử Hà như trước nữa. Một hôm, Di-Tử-Hà phạm lỗi, vua giận nói rằng: “Di-Tử-Hà trước dám tự tiện lấy xe của ta đi. Lại một bận dám cho ta ăn quả đào thừa, thật đáng tội với ta đã lâu ngày". Nói xong bắt đem ra trị tội. Ôi! Di-Tử-Hà ăn ở với vua trước sau cũng vậy, thế mà trước vua khen, sau vua bắt tội là chỉ tại khi yêu, khi ghét khác nhau mà thôi. Cho nên Ca dao có câu:

                 “Thương nhau cau bảy bổ ba,
                 “Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.”

Có độ lượng thì không xử sự như vua nước Vệ bao giờ. Khoan-dung và tha-thứ là rộng lượng bao dung, tha thứ những điều sai sót lỗi lầm của người khác đối với mình.

QUẺ 318:

Thiết tố nhứt điều, vị bả cô  châu hệ,

Kim đao nhứt hạ, tảo bả đầu lạc địa.

鐵 素 一 倏 。未 把 孤 舟 繫。

 金 刀 一 下 。早 把 頭 落 地

Dịch nghĩa:  Một dây xích sắt sẵn trong tay,

Thuyền lẻ ngoài khơi chửa buộc ngay.

Nắm sẵn con dao loang loáng sáng,

Chờ thêm dịp tốt mới ra tài.

Chú giải: Thuở xưa có ông Lưu-Khoan là một vị quan có tấm lòng khoan-dung độ-lượng. Buổi sáng, khi mặc áo đi chầu vua, người thị-tỳ bưng bát cháo lên hầu, chẳng may làm đổ cháo dính áo, thị-tỳ run sợ quá, lấy tay vuốt áo, nhưng Ông Lưu-Khoan thản nhiên không đổi sắc mặt, còn ôn-tồn hỏi rằng:  Cháo nóng có phỏng tay con không?         Đó là một tấm lòng khoan-dung đại-lượng, chẳng những không quở phạt mà còn thương xót kẻ hầu hạ, phát xuất nơi lòng “Nhân” mà ra vậy.

&

QUẺ 319:

Thập nhị thời trung, khẩn cấp luyện trước,

Nhứt khắc thiểu diên, vô xứ hạ cước.

十 二 時 中 。緊 急 煉 著 。

一 刻 少 延 。無 處 下 脚

Dịch nghĩa:  Mười hai giờ ấy có là bao,

Hãy gấp dự phòng mưu chước cao.

Một phút dần dà e hiểm hoạ

Rồi đây không lối đặt chân vào.

Chú giải:- Đạo Cao Đài còn có con đường tu thứ ba nữa là

Luyện đạo trong Tịnh Thất, dành cho bực thượng thừa đã lập được đầy đủ công quả nơi Cửu Trùng Đài hay trong Cơ quan Phước Thiện. Ba Tịnh Thất dùng trong việc Luyện đạo là:  - Trí Huệ Cung dành cho Nữ phái.

             - Vạn Pháp Cung dành cho Nam phái

             - Trí Giác Cung.

Điểm đặc biệt của Đạo Cao Đài khác hẳn với Phật giáo là: các tu sĩ Phật giáo sống nhờ vào sự cúng dường của nhơn sanh và sự khất thực của các khất sĩ. Các tu sĩ của Đạo Cao Đài chủ trương tự làm ra lương thực và của cải để tự nuôi sống mình mà lo tu hành, đồng thời có dư ra để làm các công việc từ thiện, cứu khổ nhơn sanh. Cơ Quan Phước Thiện đảm nhận nhiệm vụ quan trọng nầy, nên được gọi là cơ quan bảo tồn. Thế nên, những cơ sở Phước-thiện như: Cô Nhi Viện, Dưỡng Lão Viện, Bảo Sanh Viện, Y Viện, Nghĩa thục... là thuộc phần trách  nhiệm của Cơ Quan Phước Thiện.

&

QUẺ 320:

  Phong khởi Tây Nam, hồng nhựt đương thiên,

Kỳ môn diệu quyết. Nhứt chưởng năng khan.

風 起 西 南 。紅 日 當 天 。

奇 門 妙 訣 。一 掌 能 看 。

Dịch nghĩa:  Ngọn gió Tây Nam đã thổi mau,

Lưng trời bóng  nắng đã lên cao,

Lắm điều lạ mắt thêm huyền diệu,

Trong tay, nhanh trí thấy ra vào!

Chú giải: Phải vui-vẻ, điều-hòa, tự-chủ và quyết đoán.Có vui-vẻ thì tâm hồn mới được thơ-thới, có vui-vẻ mới cởi mở được cõi lòng vốn hay bực dọc do sự phiền não hằng

ngày, tạo ra bầu không khí khoan khoái dễ chịu cho riêng mình và cho tất cả mọi người xung quanh. Sự vui-vẻ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nảy nở nhiều tánh-đức tốt để thâu phục được cảm-tình của người khác.

            Điều-hòa là êm-ái, hòa-thuận. Điều-hòa là tượng trưng trật-tự chung trong trời đất (loi d'harmonie) và đạo Trung-dung của loài người.

- Vũ-trụ có điều-hòa thì càn-khôn mới an tịnh.

- Âm-dương có điều-hòa thì vạn-vật mới được sanh hóa. 

-Xã-hội có điều-hòa thì dân chúng mới hưởng thanh bình.  -Gia-đình có điều-hòa thì người mới an vui hạnh-phúc.

-Lễ Nhạc có điều-hòa thì mới có tiết-tấu âm thanh.

-Thân-thể con người có điều-hòa thì máu huyết mới lưu thông, khỏe mạnh. Tâm-trí có điều-hòa thì con người mới sáng-suốt. Trái với sự điều-hòa là hỗn loạn, không trật-tự. Người luyện-kỷ cần giữ tâm tánh điều-hòa, tức giữ được cái đạo Trung-dung thì linh-tâm mới thuần nhất mà soi sáng lòng mình hầu dìu độ đến chỗ tận thiện tận mỹ.

&

QUẺ 321:

Vạn lại vô thanh tế. Nhứt nguyệt chính đương không. Vật bị vân già yểm. Hạo phách phản mông lung.

萬 籟 無 聲 際 。一 月 正 當 空 。

勿 被 雲 遮 掩 。皓 魄 反 朦 朧

Dịch nghĩa:  Muôn loài vắng tiếng im hơi,

Bóng trăng ẩn khuất che mờ vì mây.

Việc làm nhiều rủi ít may,

Anh hùng nên phải bó tay đợi thời.

Chú giải: Muốn giữ được cái tâm cho còn bổn nguyên chí linh, chí Thánh, thì đừng để lục-dục thất-tình lấn áp, làm mờ tối cái ánh sáng thiêng-liêng đó, tức là dọn mình cho trong sạch mới thấy được cái Tâm là nơi cảm ứng với các Đấng Trọn-Lành và cũng là Tòa ngự của Đức Chí-Tôn nơi lòng mình đó vậy. Đức Chí-Tôn có cho bài thi:

                        Bạch-Ngọc từ xưa đã ngự rồi,
                        Chẳng cần hạ giới vọng cao ngôi.
                        Sang hèn trối kệ Tâm là quí,
                        Tâm ấy Tòa Sen của Lão ngồi.

&

QU 322:

Nhứt cá tri âm, khước tại thiên biên đẳng,

 Thiết vật nhân tuần, Tĩnh dạ đương tư tỉnh.

          一 個 知 音 卻 在 天 邊 等 。

         切 勿 因 循 靜 夜 當 思 省

Dịch nghĩa:  Một người tri kỷ. Đợi tận phương trời

Xin đừng sai hẹn ai ơi!

Canh khuya thanh tịnh mấy lời tính toan.

Chú giải: Hiếu hạnh với Chí-Tôn và Phật Mẫu. Với Cha Mẹ hữu-hình ban cho chúng ta một mảnh thân phàm xác thịt, thì hai Đấng Phụ-Mẫu Thiêng-Liêng ban cho chúng ta nhứt điểm linh và một khối Chơn-Thần để làm chủ xác thân ta. Muốn đền đáp công ơn đó, chúng ta phải hiếu hạnh. Hiếu-hạnh với Phụ Mẫu hữu-hình là sớm thăm tối viếng, vâng lời chìu lụy, ân cần dưỡng nuôi, tạo danh thơm tiếng tốt, làm đẹp mặt nở mày Tông-môn Tổ-đường thì đối với Phụ-Mẫu Thiêng-Liêng chúng ta cũng phải: thường xuyên cúng kính, lễ bái thường hành hôm sớm “Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang” cho hằng bữa tâm hồn được gần-gũi ân điển Thiêng-Liêng, gột rửa chất phàm, giải tiêu oan-nghiệt, tinh-thần trí não được sáng suốt để thể Thiên hành Đạo cho đúng với Luật-Pháp Chơn-Truyền.

&

QUẺ 323: Chúng khuyển tương tụ, lộ xỉ giảo nha,

Dao đầu bãi vĩ. Chỉ cố khán gia.

      眾 犬 相 聚 。礪 齒 咬 牙 。

    搖 頭 擺 尾。只 顧 看 家

Dịch nghĩa:  Đàn chó tụ họp. Múa mỏ nghiến răng

Lắc đầu vẫy đuôi. Giữ nhà mà thôi.

Chú giải:  đàn chó là những con vật được tiếng là trung thành. Dù chủ nuôi có đối xử tê bạc cỡ nào nó vẫn một lòng trung tín mà thôi. Nghĩ tiếc cho lòng sinh phản bội ?

Đức Hộ-Pháp nói: “Mấy em Nam, Nữ nghĩ coi; một lời tiên tri trước kia nó hiện tượng hôm nay ra thể nào, mấy Em biết cái huyền linh vô biên của Đấng cầm quyền thưởng phạt vô hình nó mạnh mẽ và chơn thật thế nào? Bởi cớ cho nên khi Đạo mới phôi thai thì các quỷ quyền toan diệt Đạo. Buổi sơ sanh Đạo yếu ớt, bạc nhược, ngu dại, dốt nát thế nào, nên bị nó giục cho thiên hạ dùng cả năng lực quyền hành của mình toan tiêu diệt Đạo cho kỳ đặng. Họ đồ mưu chia rẻ làm cho trong Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn phải ly tán, Anh nghịch Em, Em bất hòa với Anh, cả nền Đạo chinh nghiêng đảo ngược.Gánh một chức vụ Hộ-Pháp cầm cả Luật Pháp của  Đạo, không lẽ Qua ngồi ngó đặng chịu tội cùng Đức Chí Tôn. Qua phải tìm phương giải quyết đem chữ Hòa của Đức Chí Tôn muốn ấy đặng làm căn bản. Bởi cớ cho nên mới sản xuất ra Phạm-Môn và Qui-thiện.”

&

QUẺ 324:

Thê tiền phu hậu nhứt đồng hành.

Hảo tỷ tiên cơ phi dĩ minh.

Quân nhược hữu tình tu thiết ký.

Thập niên ân nghĩa mạc vong tâm.

妻 前 夫 後 一 同 行

好 比 先 機 非 已 明

君 若 有 情 須 切 記

十 年 恩 義 莫 忘 心

Dịch nghĩa:  Chồng sau vợ trước cùng đi

Thiên cơ đã định thị phi cũng rành

Ai kia ghi nhớ chữ tình

Mười năm ân nghĩa đã đành chớ quên.

Chú giải: Nho-Giáo đã giải-thích: Tâm sanh Tánh, Tánh

sanh Tình, cho nên mới có câu: “Tánh tự Tâm sanh”性自心生 và triết-học của Nho-Giáo là “Tồn Tâm dưỡng Tánh" 存心養性 Ngày nay, Đức Chí-Tôn đến khai Đạo, chữ Tâm được giải rõ hơn:“Nhà Nho nói Tánh tự Tâm sanh, đó là lý-thuyết của Đạo Nho. Chỉ biết có một điều là ta quan-sát cơ thể thấy hiện tượng mà tỏa trạng hình được, vì Đạo Nho chưa phải là một Tôn-Giáo huyền-bí. Còn Đức Chí Tôn đến dạy ta biết rằng Tánh là chơn tướng của Chơn Thần, còn Tâm là chơn tướng của Chơn-Linh. Chí Tôn dạy: Tánh của mỗi chúng ta là hình thể thứ nhì của ta, hình thể thứ nhứt là Tâm tức là Chơn-Linh, thứ nhì là Tánh tức là Chơn-Thần, thứ ba là xác-phàm thú chất nầy.

&

QUẺ 325:

Thử phu huyệt. Bổn tự ninh,

Nhứt lộ thủ, miêu tức căn.

Thân uy dương trảo, thử táng tàn sinh.

    鼠 夫 穴 本 自 寧

    一 路 首 貓 即 根

    伸 威 揚 爪 鼠 喪 殘 生

Dịch nghĩa:  Chuột trong lỗ. Tự kiên cố.

Đầu ló ra. Mèo rình ngó.

Dương móng làm oai. Chuột nguy tại chỗ.

Chú giải: Chuột, trời sanh ra để sợ mèo. Mèo ăn chuột là bản tính sinh tồn của nó. Tuy mèo nhỏ con, hay nũng nịu nhưng bản chất nó cũng oai phong lẫm liệt nên chuột ngán là phải. Cái tướng tinh nó giống như cọp, mà còn là “Dì của cọp” nữa chứ. Người ta nuôi mèo là để bắt chuột (mèo sát chuột). Thế mà khi các vị đồ nho thử đố câu “Sát nhứt miêu cứu vạn thử” thì có câu trả lời ngay: Giết một con mèo để cứu lấy hàng ngàn con chuột! Có trớ trêu không ? Sai rồi. Miêu đây là loại sâu miêu, vốn phá lúa như sâu rầy vậy. Thử đây là lúa nếp. Nếu giết trừ đi một con sâu miêu thì cứu lấy hàng ngàn cây lúa.(Chữ nho nhứt tự lục nghì là vậy).Bây giờ nói chuyện tiên tri: Đức Chơn Cực Lão sư giáng cơ nói chuyện với ông Thủ Tướng Hoạch năm 1937. Đang lúc có con mèo chạy qua. Ông nói: Ê ! Hoạch, nhà “Toa”có nuôi con mèo mun phải không. Cho thi:       

Mèo mun ngồi tựa góc mùn meo,

Trèo đái trên cây bẻ trái đèo.

Lách trật khỏi nhào vỡ lật trách,

Leo ra chủ rượt chạy la reo.

Thú vị lắm, các Bạn thử đoán xem.!

QUẺ 326:

    Thư trung hữu nữ nhan như ngọc.

    Thư trung tự hữu hoàng kim ốc,

    Độc tận ngũ xa thư, chí nguyện tự năng túc,

    Hà tất tiêu lao, tâm trung mang lục.

書 中 有 女 顏 如 玉

書 中 自 有 黃 金 屋

           讀 盡 五 車 書 志 願 自 能 足

何 必 消 勞 心 中忙 碌

Dịch nghĩa:   Sách hay sẵn có hồng nhan,

Kinh thơ đầy đủ nhà vàng bên trong.

Năm xe sử sách đọc xong,

Tự nhiên chí thoả trong lòng thảnh thơi.

Chú giải: theo Tân-Pháp của Đại-Đạo thì Tâm là chơn tướng của Chơn-Linh, là khối Nguơn Linh của Đức Chí Tôn vốn trọn lành và hoàn-toàn sáng suốt. Chơn-Linh đến loài người để chế-ngự Chơn-Thần là nơi phát sanh ra Tánh. Nếu Chơn-Thần được định tĩnh, trong sạch, sẽ tiếp được điển của Chơn-Linh nơi Nê-huờn-cung mà khai Huyền-quang-khiếu, tức là đoạt huệ hay đắc Đạo. Vậy Chơn-Linh là linh-thể bất nhiễm và chí thiện. Tánh là chơn-tướng của Chơn-Thần, thuộc thể thứ nhì của con người do Đức Phật-Mẫu ban cho. Chơn-Thần cũng sáng suốt như Chơn-Linh, nhưng vì gần-gũi với thể xác và lấy y khuôn rập của xác thân nên Chơn-Thần, thay vì làm chủ lục-dục thất-tình, lại hay nuông chìu và nhiểm theo phàm tánh của xác thân mà sanh ra những tánh ác, bỏ mất tánh thiện. Phương-pháp trị tâm là dứt bỏ được cái phàm tánh  triêm nhiểm trong Chơn-Thần, trở lại bổn nguyên chí Thánh của Thiên-Lương, tức thị Chơn-Thần hòa-hiệp với Chơn-Linh mà đoạt cơ siêu-thoát.

&

QUẺ 327:

Báo biến thành văn thái, thừa long phúc tự trăn,   Xích thân thành phú quí. Sự sự khả hề tân.

   豹 變 成 文 釆 。乘 龍 福 自 榛

      赤 身 成 富 貴 。事 事 可 兮 新 。

Dịch nghĩa:  Beo đã thành chấm vằn.

Cỡi rồng phước lộc tăng.

Tay không nên phú quý,

Muôn sự được canh tân..

Chú giải: Lời này ứng với quẻ. Cuộc đời là sự biến dịch không ngừng.Biến là thay đổi theo thời gian, chứ không phải từ trạng thái này sang trạng thái khác.  Câu chuyện:

Người ta tò mò là các vị chân sư có thể làm các phép lạ được chứ ? Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu:  Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật Thần thông đâu phải mục đích tối hậu của con đường đạo. Nó chỉ là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí. Đối với các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các Ngài phải làm. Mục đích của con đường đạo là Gỉai Thoát, là trở nên toàn thiện như những Đấng cao cả mà Đức Jésus là một. Giáo sư Spalding cãi:  Nhưng chúa Jésus đã từng làm các phép lạ. Người Ấn bật cười trả lời:  Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng chúa Jésus làm vậy vào mục đích khoe khoan hay sao? Không bao giờ, đó chỉ là những phương tiện để cảm hoá những người dân hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà thôi. 

&

QUẺ 328:

Cô dương vi hề, quần âm dật hề,

Lực ký đàn hề, Tương bất khả mạo hề,

Chân cẩn thận hề, nghi khả bảo hề.

     孤 陽 微 兮 群 陰 溢 兮

         力 既 殫 兮 將 不 可 耄 兮

    真 謹 慎 兮 宜 可 保 兮

Dịch nghĩa:  Phần Dương đã khá suy vi

Phần Âm lại thịnh khó bề hợp đôi

Vứt đi giữ lại phân hai,

Đề phòng cẩn thận kẻo hoài thiệt hơn.

Chú giải:  Quyền Chí-Tôn định truất quyền Nữ phái. Đức           Hộ-Pháp để lời phân phiền cùng Thầy như vầy: Thưa Thầy, Thầy đã nói con cũng đồng con, Nam Nữ vốn như nhau mà Thầy truất quyền của Nữ-phái không cho lên địa vị Chưởng-Pháp và Giáo-Tông, thì con e mất lẽ công bình chăng?Thầy dạy: Thiên địa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn Khôn thế giới nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương-quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy-lừng, ấy là ngày càn khôn thế giới phải chịu trong hắc-ám, mà bị tiêu diệt. Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ phái cầm quyền Giáo-Tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Đạo ắt bị tiêu tàn ám-muội."

&

QUẺ 329:

Hiểu vũ sơ tình ánh bích khê,

Trùng trùng xuân sắc thượng sài phi.

Hoàng kim bất tận gia ân phú.

Hà tất khu khu tiện cẩm y.

    曉 雨 初 晴 映 碧 溪

    重 重 春 色 上 柴 扉

    黃 金 不 盡 家 殷 富

     何 必 區 區 羨 錦 衣

Dịch nghĩa:  Sớm mưa vừa tạnh, sông êm,

Nghìn trùng xuân sắc gắn lên cửa sài.

Bạc vàng đầy đủ gia tài,

Cần chi khen ngợi bề ngoài áo xiêm.

Chú giải: Vị Tiên Lam Thể Hòa giáng Cơ nói: Đạo gặp kỳ phổ-độ, khá biết cải thế thì. Đạo khả trọng, đức năng trau. Đời dời đổi, Đạo chờ người. Khách tục nương thuyền độ, non Tiên tiếng khánh đưa, gắng nhọc thế lọc-lừa, tìm đường ngay thẳng-rẳng. Nguồn rửa bợn nhiều đường cay đắng, bước nâu sòng dặm lắm gay go. Liệu sao khỏi trễ con đò, mới thoát vòng khổ hải. Gắng sức vì sanh mạng, lao tâm chớ sợ bởi căn xưa. Đường quanh co, bước khá ngừa; nẻo hiểm trở, chơn nên lánh. Hậu tái ngộ.

Từng vào non Thánh lại đền vàng,
Mãn quả sớm nhờ sắc ngọc ban.
Lần hạc tu tâm thìn nét Đạo,
Biển trần độ chúng vững con thoàn.
Cuộc cờ chung hứng nơi rừng thắm,
Bầu rượu riêng vui với cột tàng.
Gặp lúc dìu đời qua bến tục,
Để công phải nhọc đến phàm gian.

&

 

QUẺ 330:

Thế đạo đa kinh cức. nhân tình mỗi dụng ta,

Lợi danh các hữu lộ. Cần khổ trục sinh nhai.

世 道 多 荊 棘 。人 情 每 用 嗟 。

利 名 各 有 路 。勤 苦 逐 生 涯

Dịch nghĩa:  Đường đời lắm nỗi chông gai,

Nhân sinh đạm bạc xưa rày chẳng sai.

Lợi danh Trời sẵn an bày,

Ai mà khắc khổ sinh nhai tuỳ phần.

Chú giải: Vị Tiên Trương Quả Lão giang Cơ: Đạo gặp lối quanh co, khá biết ngừa vực thẵm, gắng sức cho tròn trách-nhậm lớn lao của Đấng Chí-Tôn phú thác.  Khá biết. 

Trương kỳ bạch động mộ Tiên gia,
Quả diệu thâu trì tác trí kha.
Lão dược độ sanh tiên tự khởi,
Hiến trần tu thức trực ninh tà.

Ách nước nạn dân, số Trời đọa thế. Vòng vay trả, mối buộc ràng; nếu có tai mắt rộng xa, tự hỏi vì đâu nông-nỗi.

Đạo Trời gỡ nạn, chuông Thánh truy hồn, bến khổ vớt khách chìm, non Thần chờ kẻ lạc; mà cũng còn khư khư nắm chắc miếng đỉnh chung, cấp-củm giữ đầy lòng nhơ bợn. Đạo, Đời đều chẳng trọn, phương chi tìm chốn thoát lao lung. Ngảnh lại cuộc giả của trò đời, mà thương đau cho trẻ dại. Lần-lần lựa-lựa, ngẩn-ngẩn ngơ-ngơ, đứa trí gạt phường ngu, lũ khôn ăn đám dại.

&

QUẺ 331:

Sơn cùng lộ chuyển, mê thuỷ cấp châu nan độ,

Vạn sự mạc cưỡng vi, xuất xứ tao gian đố.

山 窮 路 轉 。迷 水 急 舟 難 渡 。

萬 事 莫 強 為 。出 處 遭 奸 妒

Dịch nghĩa:   Non hiểm đường khúc khuỷu,

Nước gấp thuyền ngựơc triều.

Việc làm thà chịu khổ nghèo,

Đề phòng kẻ xấu thầm theo ghen rình.

Chú giải:  Ngày vui vẻ của sanh linh đã mòn, họa Thiên điều đã cận, Càn khôn Thế giới còn đeo đuổi, dụng thất đức vô nhân mà gieo thảm chất sầu trong nhân loại. Họa Âu tai Á sẽ lần lần thay phiên nhau, dụng luật Thiên đình mà diệt phạt người vô đạo. Càn khôn cũng vì đó mà phải điên đảo. Thầy lấy đức háo sanh mở Ðạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần, tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt. Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị Tà yêu cám dỗ. Than ôi! Chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà thuyền Bát Nhã độ người không mấy kẻ. Ðức thừa ít có, mà tài vô dụng chẳng thiếu chi. Phong hóa khiến suy tồi, cang thường càng loạn phép. Tài mọn, đức hèn, mượn chước khoe mình, việc kỉnh thành Thánh giáo, hư thiệt, thiệt hư, đâu qua máy hành tàng của Tạo hóa. Nhơn luân giữ trọn, ấy là mối đạo nhân, lo Thánh đức trau lòng là phương thoát tục. Mấy ai xét nét thế tình, lắm kẻ khinh khi nguồn Thánh. Chư chúng sanh khá liệu mình.

&

QUẺ 332:

Thời đa nạn, chiến chiến cạnh,

Giới cẩn khủng cụ như lý bạc băng,

Tu thức tiền trinh nguy dữ hiểm,

Nhứt lung phong lý nhứt chi đăng.

時 多 難 戰 戰 競 。戒 謹 恐 懼 如 履 薄 冰

   須 識 前 程 危 與 險 。一 籠 風 裡 一 枝 燈

Dịch nghĩa:  Hoạ nàn vương vấn, dạ hoang mang.

Cẩn thận đề phòng dẫm phải băng.

Nguy hiểm đường đêm nên tự biết,

Một lồng gió quyện chiếu đài không.

Chú giải:  Đức Lý dạy: “Hễ Đạo trọng tức nhiên chư Hiền-hữu trọng, vậy thì chư Hiền-hữu biết mình trọng mà lo sửa vẹn người  Đời. Từ đây Lão hằng gìn-giữ cho chư Hiền-hữu hơn nữa. Nếu thoảng ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là cố ý muốn giá-trị chư Hiền-hữu thêm cao-trọng hơn nữa. Vậy Lão xin đừng để dạ phiền-hà nghe!”  Đức Hộ-Pháp giải:“Trong Thánh-ngôn Hiệp tuyển có bốn câu thi của Ngài rất ngộ-nghĩnh:

-  Cửu tử kim triêu đắc phục huờn: là cảnh trần Ta chết đã lâu mà hôm nay Ta được phục sanh lại trong Thánh-thể của Đức Chí-Tôn.

- Hạnh phùng Thiên-mạng Đáo khai nguơn: là còn hạnh phúc đặng Thiên-mạng đến khai nguơn. Tại sao Ngài nói đến? Bần-Đạo đã thuyết: Cuối Hạ-nguơn Tam chuyển khởi Thượng-nguơn Tứ chuyển, Ngài đến khai nguơn là có duyên cớ. Bần-Đạo dám chắc rằng Đấng nào khác hơn Ngài thì không thi-hành được. Ngài đến đặng mở Thượng nguơn Tứ chuyển.

- Thế trung kỵ tử hà tri tử ?  Thế-gian sợ chết mà không biết cái chết là gì! Chính Ngài hỏi rồi nói:

- Tử giả hà tồn chủ tịch Huơng: Tịch Hương là tịch của Nữ-phái. Nữ-phái là nguồn sống của nhơn-loại, nếu nói nó chết thì Ngài đến làm chủ của Nữ-phái nghĩa gì? Cầm cái giống của thế-gian này chi?

&

 

QUẺ 333:

Nhứt đoá hoa chi diễm cánh  phương.

Thanh hương phúc úc thấu lan phòng,

Thời phong xuy tống chung thành tiếu,

Hảo cú diên tiền tấn kỷ trường.

一 朵 花 枝 豔 更 芳

清 香 馥 郁 透 蘭 房

 時 風 吹 送 終 成 笑

好 句 筵 前 進 幾 腸

Dịch nghĩa: Cành hoa tươi đẹp nhường bao!

     Hương thơm ngào ngạt thoảng vào phòng lan.

     Gió đưa cười cợt hân hoan,

     Thơ hay trước tiệc lại càng thêm duyên.

Chú giải: Người có ba món báu là: Tinh, Khí, Thần. Người tu-hành là cốt-yếu luyện Tinh hóa Khí. Tinh là một chất tinh-ba được lọc thật kỹ ở trong người để tư nhuận cho cơ thể như  Khí tức là chánh khí ở trong cơ thể con người, nhờ nó mà con người luôn luôn được mạnh khỏe, và một khi chánh khí suy thì tà khí ở ngoài xâm nhập, gây ra bịnh hoạn. Thần thuộc về phần Thiêng liêng linh diệu trong cơ quan suy tư cảm giác của con người, nó vốn bất tiêu bất diệt. Điểm linh quang do Chơn linh của Tạo Hóa ban cho. Người nhờ ba món báu đó mà tạo Tiên tác Phật.

   - Trời có ngũ khí là: Ngũ Hành chi khí.

  - Đất có Ngũ Hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

  - Người có Ngũ Tạng là: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận.

  - Thế giới có ngũ châu là: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc.

&

QUẺ 334:

Tự tòng trì thủ định, cộng tại chúng nhân tiên,

 Biệt hữu phi thường hỉ, tuỳ long đáo cửu thiên.

自 從 持 守 定 功 在 眾 人 先

別 有 非 常 喜 隨 龍 到 九 天

Dịch nghĩa:  Phận mình đã định xong xuôi

Lập công phải tính cho người trước tiên

Cỡi rồng đi tới cửa thiên

Thế là phước đức may duyên vô cùng.

Chú giải: Ống tiêu có bảy lỗ tượng cho tổ khiếu thất tình, nếu con người khéo tu nó sinh thất bửu cũng thể hiện cho thất khiếu sanh quang, nhưng đắc pháp rồi thần khí phục hồi mở được cửu khiếu nhờ kết tụ tam diệu sẽ chiếu ngần ánh xá lợi. Nên Thích Lão định danh là Mâu ni bửu châu hoặc Thử mễ huyền châu hay Cửu Khúc Minh Châu. Phật CIVA da đỏ mình trần đứng day chánh Nam, tay tả chống nạnh thể hình tam giác ở lý tam tài Thiên, Địa, Nhân, tay hữu chống gươm với phép định địa, chơn phải đạp trên đầu Giao Long để trừ cái dữ phô bày nơi mặt thế làm khổ chúng sanh, dầu mọi vật thể đúng chu kỳ với định luật bị đào thải trở lại vật chất. Lẽ tất nhiên phần đó phải có sanh hồn, như thế Thần Phá Hoại tức Thần bảo tồn là vậy. Thần CiVa có bộ tinh nhũ là hiện thân của Phật Mẫu, nhưng Phật Mẫu chính Đức Nguơn Thỉ với hạnh huỳnh kỳ.

&

QUẺ 335:

Viễn lộ ba đào nhứt diệp châu,

Nhi kim thuỷ đắc quá than đầu,

Niên lai tâm sự tiễn thành tựu,

Khuất chỉ tòng tiền đa khả ưu.

     遠 路 波 濤 一 葉 舟 。而 今 始 得 過 灘 頭 。

     年 來 心 事 踐  成 就 。屈 指 從 前 多 可 憂。

Dịch nghĩa:  Dòng xa thuyền vượt ba đào

Ngàn khơi qua khỏi giờ vào bến kia

Nhiều năm tâm sự khôn bì

Từng bao lo ngại ít khi yên lòng.

Chú giải: Với sự chiêm ngưỡng của tín đồ trong nền Đại Đạo, Toà Thánh Tây Ninh là nơi thờ Trời được thể hình pháp Địa Chi có mười hai cửa nội ô ra vào, còn ngôi thờ cũng biểu tượng ba đài Bát Quái là Phật, Hiệp Thiên là Pháp, Cửu Trùng là Tăng, để phát huy chơn tướng của Đạo. Cửu Trùng Đài là phần xác, Bát Quái Đài là linh hồn, Hiệp Thiên Đài là Chơn Thần, chẳng khác nào ở bản thân của con người chúng ta cũng có ba: một là Thân, hai là Tâm, ba là Tánh, y như ngôi Đền Thánh mà Đức Hộ Pháp đã tạo, Bát Quái Đài phần nguơn linh tức là Đạo, Hiệp Thiên Đài phần nguơn khí tức là Pháp, còn Cửu Trùng Đài phần nguơn Tinh tức là Thế. Mỗi đài đều có liên hệ ảnh hưởng cho nhau. Chẳng khác nào Thân Tâm và Tánh, Tánh là cái thể của Tâm, nhưng Tâm cũng là Tánh, Tánh để tiêu biểu mọi sắc thái về hành động, còn Tâm là cái trừu tượng xuất phát những tư tưởng cho Tánh, Tâm thay vì tòa Bát Quái, tánh ví như cửa HiệpThiên, Thân tượng thể  Cửu Trùng, đó là phần xác của vạn linh được tiêu biểu đạo pháp của Càn Khôn tức là hình ảnh Chí Linh đó vậy.

&

QUẺ 336:

Thụ quân chi lộc, cửu giáng trinh tường,

Doanh nhi bất phú, Thủ chi nãi xương.

Vô đãi vô kiêu, vĩnh bảo an khương.

受 君 之 祿 久 降 禎 祥

盈 而 不 phú 守 之 乃 昌

毋 怠 毋 驕 永 保 安 姜

Dịch nghĩa:  Xưa từng thọ lộc vua ban

Lâu nay đặng hưởng vinh an phước tường

Giữ gìn cho vững long xương

Đừng kiêu đừng biến việc thường được an.

Chú giải: Đến đời Tây Châu, Đức Văn Vương ngồi tù nơi Dữu Lý bảy năm, nhầm con số Thất Diệu, định thần mở khiếu huệ quang để nghiên cứu cơ huyền nhiệm của vũ trụ. Khi về nước mới tìm lại những vạch ở Hà Đồ của Phục Hi, để lại gọi Tiên Thiên Bát Quái và căn cứ Lạc Thư soạn ra Hậu Thiên Bát Quái, cũng lấy số tượng cho lý. Đến Đức Khổng Phu Tử nhìn thấy cơ hành xử của Vũ Trụ nên phụ chú vào cho mỗi hào thêm sáng tỏ mới có sách gọi là Kinh Dịch, đây cũng bằng chứng cụ thể kể nòi giống Rồng Tiên mới là Thỉ Tổ của Dịch Lý, nên chuyện bánh chưng bánh dầy không ngoài ý nghĩa về minh triết của đạo pháp ở câu "Thiên viên Địa phương".

&

QUẺ 337:

                   Vạn sự bất do nhân, kế giao nhứt sinh tận  

    Thị mệnh  an bày mạc nghi sai,

    Mệnh lý hữu thời tổng hữu phận,

    Hà tu lục lục hỗn trần ai. Hưu tai!

萬 事 不 由 人 計 交 一 生 盡

是 命 安 排 莫 疑 猜

命 裡 有 時 總 有 分

何 須 碌 碌 混 塵 挨 休 哉

Dịch nghĩa:  Muôn việc chẳng do người

Lo lường trọn cả đời

Rủi may đều duyên số

Bận gì việc trần ai. Ôi thôi!

Chú giải: người có hai mắt gọi là mụccốt để nhìn ra. Nhưng người tu là tạo ra Thiên nhãn, Thánh  nhãn, Thần nhãn. Bây giờ mới gọi nhãn chỉ có một mà thôi. Nhãn gồm chữ mục và cấn, tức là khi mắt nhìn bị núi chắn phải nhìn vô. Tôn Giáo Cao Đài dạy thờ Thiên Nhãn, tức thờ Trời mà cũng là thờ chúng ta đó. Về lý âm dương giữa Trời và Người cũng như pháp thập tự giá với hình tứ tượng có ác, có thiện, thể hiện đạo Chúa đủ lý âm dương mới trường tồn, còn ta thờ Đức Chí Tôn bằng Thiên Nhãn, với căn bản tinh túy ở nguyên lý âm dương. Thờ Thiên Nhãn tức là thờ Thần Thiên Lương của nhơn loại sự trọng đại chỗ Trời Người hiệp nhứt, Thượng Đế tức là chúng ta mà chúng ta cũng là Thượng Đế, vì thế chúng ta sùng bái cái điểm linh của bản tâm, bởi Nhãn thị chủ Tâm. Thần cư tại nhãn, Thiên Nhãn là căn bản của chúng sanh, vì mỗi chúng sanh đều thọ một phần nguơn linh của Tạo Hóa. Thờ Thiên Nhãn là thờ đủ Phật-Pháp-Tăng.

&

QUẺ 338:

Nhất phiến ưu tâm vị chỉ hưu,

Hoa phùng xuân vũ diễm nan lưu,

Đắc ý qui hưu thất ý qui hưu.

Tiên gia chỉ thử nhứt trù mưu.

一 片 憂 心 未 旨 休

花 逢 春 雨 豔 難 留

 得 意 歸 休 失 意 歸 休

仙 家 只 此 一 籌 謀

Dịch nghĩa:   Mối sầu vương vấn chưa xong

Mưa xuân lác đác sắc hồng dần phai

Được thua về nghĩ hỡi ai!

Tiên gia chỉ có mưu này ấy thôi.

Chú giải: giống Rồng Tiên phát khởi do nguyên lý của đạo pháp. Tiên ở núi, Rồng ở bể, thể hiện lý âm dương của trời đất, về dân tộc tánh chưa mất nguồn gốc trên bốn ngàn năm lịch sử của Tổ Tiên lưu lại cho con cháu Âu Lạc. Âu là Âu Cơ mẹ của chúng ta là Tiên ở núi (Liên Sơn Thành Khí), còn Lạc là Lạc Long Quân tức cha của chúng ta là Rồng ở bể, vốn thủy sanh. Khí coi như phép ký tế của đạo pháp, giữa nhị khí tạo thành lý Thái Cực mới sanh một bọc trăm trứng, nhờ đó mà biến ra nguyên chủng Rồng Tiên, chẳng khác nào buổi khai thiên lập địa trăm ức nguyên nhân giáng trần trong cơ khởi thỉ. Vì lẽ đó, cái nguyên lý Rồng Tiên của chúng ta 50 người theo Cha xuống biển là dương gián, thể hiện đạo Trời với chơn lý từ ngôi dương đến ngôi âm cơ sanh hóa, còn 50 người theo Mẹ lên núi là âm phù, coi như từ ngôi âm trở về ngôi dương của lý trưởng dưỡng, trong số đó chẳng có nói nam hay nữ đều ám chỉ lý âm dương giữa Cha và Mẹ mà thôi. Với con số Ngũ của trời đất ở Khung Hồng Phạm mới biến dịch cơ tạo đoan Càn Khôn và vạn vật

&

QUẺ 339:

Lưỡng nữ nhứt phu. Thượng hạ tương khứ,

Âm khí thừa dương, dụng thị háo hư.

兩 女 一 夫 。上 下 相 去 。

陰 氣 乘 陽 。用 是 耗

Dịch nghĩa:  Gái hiền hai kẻ lấy chồng chung

Cảnh nhà trên dưới khó  hoà thông

Âm dương trái luật phần suy thịnh

Hao tổn tinh thần luống uổng công.

Chú giải:  điển tích “HỚN RƯỚC DIÊU TRÌ”.Vốn là vua Hớn Vũ Đế có lòng mộ Đạo và sùng kính Đức DIÊU-TRÌ KIM-MẪU hơn hết trong các triều đại. Ngài là Vua thứ V của nhà Hán (Hớn) bên Tàu khoảng 141-87 trước Tây lịch nghĩa là cách nay hơn 2.000 năm, Ngài có lập một cảnh chùa cực kỳ tráng lệ gọi là Hoa Điện để sùng kính Đức Diêu-Trì. Nhân ngày lục tuần, Ngài thiết lễ ăn mừng, được vị tiên Đông Phương Sóc đến mách bảo cho  cách thức để thỉnh Đức Phật Mẫu Diêu-Trì ngự. Thường Đức Mẹ Diêu Trì cỡi con chim Thanh loan  tức là con chim linh của Đức Phật-Mẫu. Theo hầu có 4 vị Tiên Đồng Nữ nhạc là: Hứa Phi Yến, An Phát Trinh,  Đổng song Thanh, Vương Tử Phá. Đồng thời có 9 vị Tiên Nương theo sau Đức Phật Mẫu. Khi đến ngự nơi Hoa Điện Đức Phật Mẫu có ban cho HỚN VÕ ĐẾ 4 quả Đào Tiên. Ông Đông Phương Sóc hai tay nâng cái dĩa để nhận tặng vật ấy. Do theo điển tích ấy mà trên bức hình này đều được đắp tượng nổi để tỏ lòng ngưỡng vọng Đức Diêu-Trì Kim-Mẫu. Ảnh Hớn Võ Đế đắp theo gương mặt của Đức Cao Thượng Phẩm, vì  Ngài là hậu thân của Hớn Chung Ly hay tiền kiếp của  Ngài.

&

QUẺ 340:

Song yến qui Nam quốc, lai tầm Vương Tạ gia,

Hoa đường xuân trú tĩnh, tạo thử thác sinh nhai.

雙 燕 歸 南 國 。來 尋 王 謝 家 。

華 堂 春 晝 靜 。造 此 托 生 涯

Dịch nghĩa:  Én đôi bay trở về Nam

Để tìm Vương Tạ nhà quan đậu nhờ

Hoa đường xuân vắng ban trưa.

Từ đây nương tựa thoả vừa lòng mong.

Chú giải: Đức Hộ-Pháp nói: “Nhớ lại, từ khi Đức Chí-Tôn chọn Bần-Đạo làm Hộ-Pháp; dạy Bần-Đạo phò-loan và chấp bút, đặc biệt hơn hết là chấp bút, vì nhờ chấp bút, mà Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn dạy cách Tham-Thiền, khi biết Tham-Thiền rồi mới Nhập-định. Nhưng Nhập-tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút là có thể hỏng cả cuộc đời, nhập-tịnh mà không tới thì bị hôn-trầm tức là ngủ gục, còn nhập-tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ; nhập-tịnh mà đúng rồi, còn phải nhờ các Đấng Thiêng-liêng mở Huệ-quang-khiếu nữa mới xuất hồn ra được. Con đường mà Chơn-Thần xuất ra rồi về với Đức Chí-Tôn là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống đó vậy. Chính Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn mở Huệ quang-khiếu nên mới được về hội kiến cùng Đức Chí-Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí-Tôn nhiều điều bí-yếu bí trọng.”

Tư vấn